Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm

Chia sẻ nếu thấy bài hay

Thủ tục rút gọn là thủ tục tố tụng được áp dụng để giải quyết vụ án dân sự có đủ điều kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với trình tự đơn giản so với thủ tục giải quyết các vụ án dân sự thông thường nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng nhưng vẫn bảo đảm đúng pháp luật. Trong phạm vi bài viết này, tác giả trình bày một số vấn đề về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn tại Tòa án cấp sơ thẩm.

Một số quy định chung

Về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn

Điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn được quy định tại Điều 317 của BLTTDS năm 2015. Theo đó, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn khi có đủ các điều kiện sau đây:

– Vụ án có tình tiết đơn giản, quan hệ pháp luật rõ ràng, đương sự đã thừa nhận nghĩa vụ; tài liệu, chứng cứ đầy đủ, bảo đảm đủ căn cứ để giải quyết vụ án và Tòa án không phải thu thập tài liệu, chứng cứ;

– Các đương sự đều có địa chỉ nơi cư trú, trụ sở rõ ràng;

– Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.

Đối với vụ án lao động đã được thụ lý, giải quyết theo thủ tục rút gọn mà người sử dụng lao động có quốc tịch nước ngoài hoặc người đại diện theo pháp luật của họ đã rời khỏi địa chỉ nơi cư trú, nơi có trụ sở mà không thông báo cho đương sự khác, Tòa án thì bị coi là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án vẫn giải quyết vụ án đó theo thủ tục rút gọn.

Chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường

Theo khoản 2 Điều 317 và khoản 4 Điều 320 của BLTTDS năm 2015, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn hoặc tại phiên tòa sơ thẩm, nếu xuất hiện tình tiết mới sau đây làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường:

– Phát sinh tình tiết mới mà các đương sự không thống nhất do đó cần phải xác minh, thu thập thêm tài liệu, chứng cứ hoặc cần phải tiến hành giám định;

– Cần phải định giá, thẩm định giá tài sản tranh chấp mà các đương sự không thống nhất về giá;

– Cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

– Phát sinh người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

– Phát sinh yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập.

Khác với giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn chỉ đơn thuần là giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà không giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn cũng không có phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Cho nên đương sự được quyền đưa ra yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập trước hoặc tại phiên tòa sơ thẩm và nếu như vụ án có yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập thì Tòa án sẽ không được giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn mà phải chuyển vụ án sang thủ tục thông thường.

– Phát sinh đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, yêu cầu xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài mà cần phải thực hiện ủy thác tư pháp, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 317 BLTTDS năm 2017 (Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự đã xuất trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản).

Hoặc là trường hợp sau khi Thẩm phán ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn mà đương sự khiếu nại hoặc Kiểm sát kiến nghị. Nếu khiếu nại hoặc kiến nghị được Chánh án Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn chấp nhận thì quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn sẽ bị hủy bỏ và chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

Thời hạn chuẩn bị xét xử

Theo khoản 1 Điều 318 của BLTTDS năm 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn là không quá 01 tháng. Theo đó, trong thời hạn không quá 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn.

Tuy nhiên, nếu Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án được tính lại kể từ ngày ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

Án phí:

Theo quy định tại khoản 4 Điều 7 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án (Nghị quyết số 326) thì mức tạm ứng án phí sơ thẩm, phúc thẩm đối với vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục rút gọn bằng 50% mức tạm ứng án phí đối với vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường.

Theo khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 326 thì mức án phí sơ thẩm đối với vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục rút gọn bằng 50% mức án phí đối với vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường quy định tại mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326.

Theo khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326 thì trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa xét xử theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 3 Điều 320 của Bộ luật tố tụng dân sự thì các đương sự phải chịu 50% án phí giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn, tức là bằng 25% án phí giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường.

Một số quy định riêng về giải quyết vụ án dân dự theo thủ tục rút gọn

Giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu

1.1. Giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu

Theo Điều 2 Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân (Nghị quyết số: 03/2018/NQ-HĐTP) thì:

Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tranh chấp về việc bên bảo đảm, bên giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu không giao tài sản bảo đảm hoặc giao không đúng theo yêu cầu của bên nhận bảo đảm, bên có quyền xử lý tài sản bảo đảm để xử lý tài sản đó nhằm giải quyết nợ xấu (khoản 1).

Ví dụ: Ngân hàng thương mại cổ phần A cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B vay 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng). Để bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng vay, Công ty trách nhiệm hữu hạn B (bên bảo đảm) đã thế chấp ngôi nhà X thuộc sở hữu của mình cho Ngân hàng thương mại cổ phần A (bên nhận bảo đảm). Khoản vay này được xác định là khoản nợ xấu, Ngân hàng thương mại cổ phần A yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn B giao ngôi nhà X (tài sản bảo đảm) để xử lý nhằm giải quyết nợ xấu nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn B không giao. Tranh chấp này là “Tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu”.

Tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu là tranh chấp về việc xác định người có quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu (khoản 2)

Ví dụ: Ngân hàng thương mại cổ phần A cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B vay 5.000.000.000 đồng (Năm tỷ đồng). Để bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng vay, Công ty trách nhiệm hữu hạn B (bên bảo đảm) đã thế chấp ngôi nhà X thuộc sở hữu của mình cho Ngân hàng thương mại cổ phần A (bên nhận bảo đảm). Khoản vay này được xác định là khoản nợ xấu, Ngân hàng thương mại cổ phần A yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn B giao ngôi nhà X (tài sản bảo đảm) để xử lý nhằm giải quyết nợ xấu nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn B không đồng ý vì cho rằng mình có quyền tự chuyển nhượng ngôi nhà X để giải quyết nợ xấu. Tranh chấp này là “Tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu”.

1.2. Điều kiện giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo thủ tục rút gọn

– Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng thì Tòa án áp dụng thủ tục rút gọn để giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

+ Trong hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu cho bên nhận bảo đảm hoặc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu có quyền xử lý tài sản bảo đảm;

Thỏa thuận về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 có thể được ghi nhận trong hợp đồng bảo đảm, phụ lục hợp đồng bảo đảm hoặc văn bản khác có hiệu lực như hợp đồng.(khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số: 03/2018/NQ-HĐTP)

+ Giao dịch bảo đảm hoặc biện pháp bảo đảm đã được đăng ký theo quy định của pháp luật;

+ Không có đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài, trừ trường hợp đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam có thỏa thuận đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn hoặc các đương sự giải trình được chứng cứ về quyền sở hữu hợp pháp tài sản và có thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản.

– Tranh chấp “không có đương sự cư trú ở nước ngoài” là tranh chấp không thuộc các trường hợp sau:

+ Đương sự là người Việt Nam nhưng không cư trú ở Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện. Tòa án xác định việc cư trú của đương sự theo quy định của Luật Cư trú;

+ Đương sự là người nước ngoài không thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện. Tòa án xác định việc thường trú hoặc tạm trú của người nước ngoài theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam;

+ Đương sự là tổ chức nước ngoài theo quy định tại khoản 26 Điều 4 của Luật Doanh nghiệp mà không ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân ở Việt Nam khởi kiện, tham gia tố tụng.

 Tranh chấp “không có tài sản tranh chấp ở nước ngoài” là tranh chấp mà không có tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự ở ngoài lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại thời điểm Tòa án thụ lý đơn khởi kiện.

1.3. Đơn khởi kiện:

* Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện: thực hiện theo quy định tại khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Mẫu số 23-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự (khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 03/2018).

* Về tài liệu kèm theo đơn khởi kiện (khoản 2 Điều 4 Nghị quyết 03/2018)

– Hợp đồng tín dụng;

– Tài liệu, chứng cứ chứng minh khoản nợ đang có tranh chấp là nợ xấu theo quy định tại Điều 4 của Nghị quyết số 42/2017/QH14;

– Văn bản, hợp đồng bảo đảm và tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc đã đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc biện pháp bảo đảm;

– Tài liệu, chứng cứ về nơi cư trú, làm việc của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức;

– Trường hợp có đương sự cư trú ở nước ngoài thì phải có một trong các tài liệu, chứng cứ sau đây:

+ Văn bản thỏa thuận giữa đương sự ở nước ngoài và đương sự ở Việt Nam đề nghị Tòa án giải quyết theo thủ tục rút gọn có công chứng, chứng thực hợp pháp. Trường hợp văn bản này được lập ở nước ngoài thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 9 của Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự;

+ Tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền sở hữu tài sản hợp pháp và thỏa thuận thống nhất về việc xử lý tài sản của các đương sự có công chứng, chứng thực hợp pháp. Trường hợp văn bản này được lập ở nước ngoài thì phải được hợp pháp hóa lãnh sự, trừ trường hợp được miễn hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại khoản 1 và 2 Điều 9 của Nghị định số 111/2011/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự.

* Về làm đơn khởi kiện:

– Đối với cá nhân khởi kiện: Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 189 của Bộ luật Tố tụng dân sự. (khoản 1 Điều 6)

– Đối với pháp nhân khởi kiện: Pháp nhân có quyền ủy quyền cho pháp nhân hoặc cá nhân khác khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu. Việc ghi thông tin và ký đơn khởi kiện của pháp nhân được thực hiện như sau:

+ Trường hợp người được ủy quyền khởi kiện là cá nhân thì phân người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của pháp nhân khởi kiện và họ tên, địa chỉ của người đại diện theo ủy quyền; phần cuối đơn khởi kiện ghi đại diện của người khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền ký tên, ghi rõ họ tên của người được ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền không bắt buộc phải ký tên, đóng dấu vào phần cuối đơn khởi kiện;

+ Trường hợp người được ủy quyền khởi kiện là pháp nhân thì phần người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của pháp nhân khởi kiện và tên, địa chỉ của pháp nhân đại diện theo ủy quyền, họ tên và chức vụ của người đại diện hợp pháp của pháp nhân được ủy quyền; phần cuối đơn ghi đại diện của người khởi kiện, pháp nhân đại diện theo ủy quyền, người đại diện hợp pháp của pháp nhân được ủy quyền ký tên, ghi rõ họ tên, chức vụ và đóng dấu của pháp nhân được ủy quyền. Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân ủy quyền không bắt buộc phải ký tên, đóng dấu vào phần cuối đơn khởi kiện.

Giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu

Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 03/2018 thì trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình, trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, nếu có đương sự yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 mà tài sản bảo đảm đó là tài sản của vợ chồng thì Tòa án có thể tách yêu cầu của đương sự đó để giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục rút gọn.

Ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố HP đã thụ lý vụ án ly hôn giữa ông A và bà B. Ngân hàng thương mại cổ phần X được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Ngân hàng thương mại cổ phần X có đơn đề nghị Tòa án giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu ngôi nhà trên đất nằm trong khối tài sản chung của vợ chồng ông A, bà B. Đồng thời, Ngân hàng thương mại cổ phần X đề nghị Tòa án tách phần yêu cầu này giải quyết bằng vụ án khác theo thủ tục rút gọn. Trường hợp này, nếu Ngân hàng thương mại cổ phần X cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm giữa Ngân hàng thương mại cổ phần X và ông A, bà B đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 8 của Nghị quyết số 42/2017/QH14 và hướng dẫn của Nghị quyết này thì Tòa án tách yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần X để giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục rút gọn.

Giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá, khiếu nại, khởi kiện về hiệu lực pháp lý của cuộc đấu giá thành, việc hủy kết quả đấu giá tài sản

Theo khoản 2 Điều 6 Luật Bán đấu giá tài sản năm 2016 thì Việc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản đấu giá, khiếu nại, khởi kiện về hiệu lực pháp lý của cuộc đấu giá thành, việc hủy kết quả đấu giá tài sản quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 72 của Luật này được thực hiện theo thủ tục rút gọn của pháp luật tố tụng dân sự.

Theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 72 của Luật Bán đấu giá tài sản năm 2016 thì:

Kết quả đấu giá tài sản bị hủy trong các trường hợp sau đây:

Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định của pháp luật về dân sự trong trường hợp người trúng đấu giá có hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5 Điều 9 của Luật này;

Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản bị hủy bỏ theo quy định tại khoản 6 Điều 33 của Luật này;

Người có tài sản đấu giá, người tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản, đấu giá viên có hành vi thông đồng, móc nối, dìm giá trong quá trình tham gia đấu giá dẫn đến làm sai lệch thông tin tài sản đấu giá hoặc hồ sơ tham gia đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài sản;”

III. Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn

Thụ lý vụ án:

Thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục rút gọn được thực hiện như thủ tục thông thường theo quy định tại Điều 195 của BLTTDS năm 2015. Cụ thể như sau:

– Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

Theo khoản 4 Điều 6 Nghị quyết 326 thì mức tạm ứng án phí đối với vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục rút gọn bằng 50% mức tạm ứng án phí đối với vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường.

Từ quy định này cho thấy việc Tòa án quyết định giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn từ khi ra thông báo cho đương sự nộp tiền tạm ứng án phí nếu đương sự thuộc trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí.

– Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

– Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

– Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.

Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí được quy định tại Điều 11, 12 của Nghị quyết 326. Người đề nghị được miễn tạm ứng án phí Tòa án phải có đơn đề nghị nộp cho Tòa án có thẩm quyền kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn đề nghị miễn tạm ứng án phí và tài liệu, chứng cứ chứng minh thuộc trường hợp được miễn, Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra thông báo bằng văn bản về việc miễn hoặc không miễn tạm ứng án phí. Trường hợp không miễn thì phải nêu rõ lý do.

Thông báo thụ lý vụ án

Biểu mẫu Thông báo về việc thụ lý vụ án số 30 ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự sử dụng chung cho vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường và thủ tục rút gọn. Khác nhau ở chỗ tại mục số (12) mẫu số 30, nếu giải quyết theo thủ tục rút gọn thì ghi Vụ án theo thủ tục rút gọn.

Như vậy, Tòa án vẫn phải gửi Thông báo về việc thụ lý cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án. Đối với vụ án do người tiêu dùng khởi kiện thì Tòa án phải niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án thông tin về việc thụ lý vụ án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Nội dung thông báo về việc thụ lý như quy định tại khoản 2 Điều 195 BLTTDS năm 2015 và mẫu số 30 kèm theo Nghị quyết số 01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sau khi nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án thì phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và tài liệu, chứng cứ kèm theo; đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập (nếu có). Nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa mà bị đơn nộp đơn yêu cầu phản tố; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp đơn yêu cầu độc lập thì Tòa án ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

Ra quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn

 Giải quyết vụ án theo thủ tục rút như đã trình bày là Tòa án không mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Theo Điều 318 BLTTDS năm 2015 thì trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và mở phiên tòa xét xử trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định. Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.

Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Tòa án phải gửi hồ sơ vụ án cùng quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Tòa án. Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý rằng Viện kiểm sát tham gia phiên tòa không phải trong mọi trường hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 21 BLTTDS năm 2015. Cụ thể Viện kiểm sát tham gia phiên tòa trong trường hợp: vụ án có đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 BLTTDS năm 2015.

Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn

Theo Điều 319 BLTTDS năm 2015 thì đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã ra quyết định giải quyết vụ án theo thủ tục rút gọn trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn, Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau đây:  Giữ nguyên quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc hủy quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn và chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án là quyết định cuối cùng và phải được gửi ngay cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp.

Phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn.

Điểm khác biệt giữa phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục rút gọn so với phiên tòa xét xử vụ án theo thủ tục thông thường là nếu bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa mà không phải hoãn phiên tòa để mở lại phiên tòa lần thứ hai.

Trình tự, thủ tục tiến hành phiên tòa như sau:

– Thẩm phán tiến hành thủ tục khai mạc phiên tòa theo quy định tại Điều 239 BLTTDS năm 2015. Cụ thể là: Chủ tọa phiên tòa khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử; Thư ký phiên tòa báo cáo Hội đồng xét xử về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và lý do vắng mặt;  Chủ tọa phiên tòa kiểm tra lại sự có mặt của những người tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập, giấy báo của Tòa án và kiểm tra căn cước của đương sự, người tham gia tố tụng khác; Chủ tọa phiên tòa phổ biến quyền, nghĩa vụ của đương sự và của người tham gia tố tụng khác; Chủ toạ phiên tòa giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; Chủ tọa phiên tòa hỏi những người có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch xem họ có yêu cầu thay đổi ai không; Yêu cầu người làm chứng cam kết khai báo đúng sự thật, nếu khai không đúng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trừ trường hợp người làm chứng là người chưa thành niên; Yêu cầu người giám định, người phiên dịch cam kết cung cấp kết quả giám định chính xác, phiên dịch đúng nội dung cần phiên dịch.

– Sau khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán tiến hành hòa giải, trừ trường hợp không được hòa giải theo quy định tại Điều 206 hoặc không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật này. Thẩm phán không phải kiểm tra việc giao nộp công khai chứng cứ và công bố tài liệu, chứng cứ như giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường. Trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Thẩm phán tiến hành xét xử.

– Việc trình bày, tranh luận, đối đáp, đề xuất quan điểm về việc giải quyết vụ án được thực hiện như giải quyết vụ án theo thủ tục thông thường theo quy định tại Mục 3 Chương XIV của BLTTDS năm 2015.

Nếu tại phiên tòa mà phát sinh tình tiết mới quy định tại khoản 3 Điều 317 của BLTTDS năm 2015 làm cho vụ án không còn đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn thì Thẩm phán xem xét, ra quyết định chuyển vụ án sang giải quyết theo thủ tục thông thường.

Kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định theo thủ tục rút gọn

Thời hạn kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn là 07 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án, quyết định được giao cho họ hoặc bản án, quyết định được niêm yết.

Thời hạn kháng nghị đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định.

Một số vướng mắc trong giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn

Nghiên cứu các quy định của BLTTDS năm về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn, tác giả thấy có những vướng mắc cần được cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn như sau:

Về thời hạn niêm yết công khai văn bản tố tụng của Tòa án

Theo khoản 3 Điều 179 của BLTTDS năm 2015 thì thời hạn niêm yết công khai văn bản tố tụng là 15 ngày, kể từ ngày niêm yết. Tuy nhiên thực tế có vướng mắc, đó là: theo khoản 1 Điều 318 BLTTDS năm 2015 thì việc mở phiên tòa xét xử là trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn. Như vậy, nếu sau khi tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn đến khi tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn cho bị đơn thì bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú và không có người nhận thay. Trong trường hợp này, Tòa án phải tiến hành niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn. Tuy nhiên thời gian niêm yết là 15 ngày, còn thời gian mở phiên tòa chỉ có 10 ngày.

Chưa có quy định cụ thể về tạm ngừng phiên tòa

BLTTDS năm 2015 không có quy định rõ nếu tại phiên tòa có một trong các căn cứ sau đây: (1) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tiến hành tố tụng không thể tiếp tục tiến hành phiên tòa, trừ trường hợp thay thế được người tiến hành tố tụng; (2) Do tình trạng sức khỏe hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan khác mà người tham gia tố tụng không thể tiếp tục tham gia phiên tòa; (3) Các đương sự thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để họ tự hòa giải thì Tòa án có tạm ngừng phiên tòa hay không. Nếu tạm ngừng phiên tòa thì thời hạn là bao lâu.

Chưa quy định trường hợp nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa

Điều 320 của BLTTDS năm 2015 chỉ quy định: Trường hợp bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên tòa. Tuy nhiên trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ mà vắng mặt không có lý do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên tòa hay đình chỉ giải quyết vụ án. Nếu hoãn phiên tòa thì thời hạn mở lại phiên tòa là trong bao lâu.

Chưa có quy định về giải quyết kháng cáo quá hạn theo thủ tục rút gọn.

Trường hợp tại phiên tòa, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ. Nhưng vì lý do trở ngại khách quan hoặc tình thế bất khả kháng, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không nộp đơn kháng cáo được trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được bản án thì trong trường hợp này Tòa án có chấp nhận đơn kháng cáo quá hạn không, trình tự thủ tục và thời gian xem xét kháng cáo quá hạn thực hiện như thế nào, có phải theo thủ tục thông thường hay không.

DƯƠNG TẤN THANH TAND thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Be the first to comment

Leave a Reply