Tội đe dọa giết người tại Bộ luật hình sự năm 2015

(Ảnh minh họa - Nguồn: hocluat.vn)

Chia sẻ nếu thấy bài hay

Tội đe dọa giết người được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 113 Tội đe dọa giết người BLHS 1999.

 

Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Đche giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.

 

Bình luận Tội đe dọa giết người tại BLHS 2015

1. Khái niệm

Đe dọa giết người được hiểu là hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho người bị dọa biết được khả năng tính mạng của của họ sẽ bị xâm phạm tới (tức sẽ bị giết chết).

2. Các yếu tố cấu thành tội Đe dọa giết người tại Bộ luật hình sự 2015

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi: Có hành vi làm cho người bị đe dọa biết được khả năng tính mạng của họ sẽ bị phạm phạm (bị giết chết).

Ví dụ: De dọa người khác nhiều lần bằng lời nói sẽ giết chết họ.

Hành vi này được thể hiện trực tiếp (như bằng lời nói trước mặt, nói trực tiếp với người bị đe dọa) hoặc bằng gián tiếp (như qua thư, qua điện thoại hoặc nhắn qua người khác).

b) Dấu hiệu khác: Có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ thực hiện.

Vấn đề xác định có hay không có căn cứ cho rằng người đe dọa có khả năng hành động thực sự trên thực tế là rất khó xác định và cần phải xét một cách toàn diện trên các mặt sau:

  • Phương pháp, thủ đoạn thực hiện hành vi đe dọa.
  • Nguyên nhân của việc xảy ra hành vi đe dọa, mâu thuẫn người có hành vi đe dọa với người bị đe dọa.
  • Trạng thái tâm lý, xử sự của người bị đe dọa sau khi bị đe dọa.

Lưu ý: người có hành vi đe dọa giết người chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu xác định căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ thực sự là việc đe dọa hoàn toàn có khả năng sẽ được thực hiện, đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

  • Dấu hiệu cơ bản để phân biệt giữa hành vi đe dọa giết người với tội giết người là ở giai đoạn chuẩn bị là sự công khai hoặc không công khai hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi tước đoạt tính mạng của người khác. cả hai tội nêu trên đều chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi giết người.
    Tuy nhiên ở tội đe dọa giết người thì người phạm tội cố ý để cho người bị hại hoặc người khác biết và tin rằng người đó sẽ thực hiện lời đe dọa giết. Còn ở trường hợp giết người chưa đạt, thông thường người phạm tội thực hiện việc chuẩn bị phạm tội một cách lén lúc, bí mật.

2.2. Khách thể

Hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến quyền được bảo vệ về tính mạng của công dân.

2.3. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp).

Lưu ý: Trường hợp đe dọa giết người mà có động cơ mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị đe dọa thì không cấu thành tội này. Trong trường hợp này người có hành vi đe dọa người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản.

3. Về hình phạt của tội đe dọa giết người

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 02 khung, cụ thể như sau:

a) Khung một (khoản 1)

Có mức phạt cải tại không giam giữ từ 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

b) Khung hai (khoản 2)

Có mức phạt tù từ 02 đến 07 năm.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

Be the first to comment

Leave a Reply