Căn cứ quyết định hình phạt theo BLHS 2015

Trách nhiệm hình sự

Chia sẻ nếu thấy bài hay

Căn cứ quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015

 

Điều 50. Căn cứ quyết định hình phạt

1. Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.

2. Khi quyết định áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội.

 

Trên đây là những căn cứ để Tòa án quyết định hình phạt đối với người phạm tội, những căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều luật này hoàn toàn giống với quy định tại Bộ Luật hình sự cũ. Trong đó căn cứ đầu tiên và có thể xem là căn cứ quan trọng nhất, bao quát nhất được nêu ra đó là: căn cứ vào quy định của Bộ Luật này (tức toàn bộ những quy định nằm trong BLHS). Có thể thấy trong quá trình xét xử vụ án hình sự sẽ luôn luôn có 2 Bộ Luật được áp dụng đó là Bộ Luật hình sự (luật nội dung) và Bộ Luật tố tụng hình sự (luật hình thức). Tuy nhiên khi quyết định hình phạt (định tội, định khung) thì sẽ chỉ căn cứ duy nhất vào Bộ Luật hình sự (luật nội dung). Căn cứ này bao hàm hết tất cả những căn cứ còn lại, bởi lẽ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ v.v…đều là những căn cứ đã được quy định tại Bộ Luật này. Việc liệt kê ra những nguyên tắc đó đảm bảo cho sự căn cứ được rõ ràng và dễ nắm bắt hơn. Bản chất của tội phạm là thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và giờ Tòa án sẽ quyết định một hình phạt thích đáng với hành vi nguy hiểm cho xã hội đó. Nhưng do tính cá biệt nên không thể nào mọi hành vi nguy hiểm đều có mức độ nguy hiểm như nhau cũng như người thực hiện hành vi phạm tội cũng rất khác nhau về độ tuổi, sức khỏe, khả năng nhận thức, lý lịch tư pháp v.v…nên yếu tố nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ luôn là một trong những căn cứ quan trọng mà Tòa cần phải dựa vào để quyết định hình phạt một cách đúng người đúng tội, công bằng và minh bạch.

 

Thực tiễn xét xử và bào chữa của các Luật sư cho các bị cáo và phần tự bào chữa của các bị cáo thường thì sẽ tập trung phần lớn vào tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vì đây là phần dễ mang lại lợi ích nhất. Những căn cứ còn lại như nhân thân hay mức độ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi thì đã quá rõ ràng vì tất cả nó đã được thể hiện trong hồ sơ của vụ án và bản cáo trạng của Viện Kiểm sát. Rất khó để các Luật sư có thể làm được điều thần kỳ là chứng minh từ có tội theo lời buộc tội của Viện Kiểm sát thành vô tội mà tuyệt đại đa số là sẽ tập trung vào việc giảm mức án được đề nghị xuống (tử hình xuống chung thân, chung thân xuống tù có thời hạn và rút ngắn thời hạn tù có thời hạn, từ tù giam xuống tù treo v.v…đại loại là như vậy). Đó cũng là một trong những hạn chế khá lớn đối với thủ tục tố tụng hình sự của chúng ta. Luật sư không có quyền tham gia hoặc tự thu thập chứng cứ ngay từ giai đoạn đầu tiên của vụ án mà chỉ có cơ quan điều tra mới có quyền thực hiện điều này. Chứng cứ trong một vụ án hình sự rất quan trọng do đó việc không thu thập một cách đầy đủ, chính xác hay thậm chí có việc giả mạo, ém lại một số chứng cứ quan trọng có thể làm vụ án xoay chiều từ vô tội thành có tội và ngược lại. Do đó một luật sư giỏi hoặc rất giỏi tại Việt Nam cũng chỉ là một luật sư giỏi bào chữa dựa trên những gì sẵn có và đa số sẽ là theo hướng giảm nhẹ hình phạt. Vậy nên tiếng nói và vị trí của Luật sư trong mảng tố tụng hình sự vẫn còn hạn chế nhiều, chưa phát huy được hết những sở trường cũng như khả năng suy luận, óc phán đoán. Tại một số hệ thống pháp luật đặc biệt là hệ thống thông luật (Common Law), Luật sư cũng được quyền tự mình thu thập và đánh giá chứng cứ tại hiện trường như một điều tra viên chuyên nghiệp và do đó hồ sơ của vụ án không chỉ có những chứng cứ được cung cấp của bên công tố (buộc tội) mà còn có cả những chứng cứ của bên bào chữa (gỡ tội). Vậy nên chứng cứ đảm bảo đầy đủ, toàn diện hơn và vì thế cho nên Luật sư có nhiều đất diễn hơn, không hiếm những trường hợp nhờ những chứng cứ quan trọng mà nhiều bị cáo gần như chắc chắc bị kết tội nhưng rồi những Luật sư đã làm mọi thứ thay đổi, bị cáo được tuyên vô tội. Do vậy vị trí và danh tiếng của nghề Luật sư ở những nơi đó rất được xã hội kính trọng, thu nhập đáng mơ ước và thực sự nghề luật sư là một nghề cao quý.

 

Căn cứ quy định tại Khoản 2 là một căn cứ hoàn toàn mới so với những quy định trước đây, cụ thể: Khi quyết định hình phạt phải căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành án của người phạm tội. Theo đánh giá của tác giả đây là căn cứ được bổ sung hết sức kip thời và cần thiết trong bối cảnh Bộ luật hình sự mới đã có thêm chủ thể là pháp nhân và đa số các chế tài áp dụng không trực tiếp thì cũng gián tiếp liên quan đến tài sản của pháp nhân đó. Do đó phải căn cứ vào tình hình tài sản và khả năng thi hành án là một điều tất yếu. Nhà làm luật chú trọng và đưa nguyên tắc này vào trong làm căn cứ quyết định hình phạt một phần không nhỏ là xuất phát từ thực tiễn xét xử và thi hành án của cơ quan tư pháp (bao gồm cả án hình sự, dân sự, hành chính). Thời gian qua đã có rất nhiều những bản án đã tuyên nhưng không thể áp dụng vào thực tiễn được, người bị hại vẫn không được đền bù, bồi thường vì đơn giản mức án đã tuyên không hề dựa trên tình hình tài sản, khả năng thi hành án của người phạm tội do đó mức án được tuyên quá cao, vượt quá khả năng đáp ứng của người thi hành mặc dù trên lý thuyết mức án đó là hoàn toàn đúng nhưng nó không thể thực hiện được do có độ chênh so với thực tế. Căn cứ mới được quy định này sẽ góp phần kết nối giữa Tòa án và cơ quan thi hành án, góp phần hạn chế án bị tồn do không thi hành được trên thực tế khi người có nghĩa vụ thi hành án không có đủ khả năng tài chính để đáp ứng trong hiện tại và tương lai.

Be the first to comment

Leave a Reply