Tội cưỡng đoạt tài sản tại Bộ luật hình sự 2015

Tôi cưỡng đoạt tài sản được quy đinh tại Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tương ứng với Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản BLHS 1999).
 

Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản
1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đng đến dưới 200.000.000 đồng;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

 

1. Khái niệm

Cưỡng đoạt tài sản được hiểu là hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác nhằm chiếm đoạt tài sản của họ.

2. Các yếu tố cấu thành Tội cưỡng đoạt tài sản tại Bộ luật hình sự 2015

2.1. Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
a) Có hành vi đe dọa dùng vũ lực. Được hiểu là hành vi của người phạm tội đe dọa thực hiện một hành động (hay đe dọa sẽ dùng sức mạnh vật chất) để gây thiệt hại cho người bị hại. Mục đích của việc đe dọa này là làm cho người bị hại sợ và giao tài sản cho người phạm tội chiếm đoạt theo đòi hỏi mà người phạm tội đưa ra gắn liền với hành vi đe dọa nên trên.
Khác với hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực trong tội cướp tài sản, việc đe dọa này không mang tính chất mãnh liệt và tức thời, người bị hại (người chủ tài sản hoặc người quản lý tài sản) hoàn toàn có điều kiện chuẩn bị đối phó và chưa đến mức làm tê liệt ý chí kháng cự của họ, mà chỉ thể hiện ở chỗ làm cho họ lo sợ ở mức độ nhất định, đồng thời họ vẫn có thời gian để lựa chọn giữa việc kháng cực hay chấp nhận giao tài sản (đây là điểm khác biệt cơ bản giữa tội cướp tài sản với tội này). Việc đe dọa được thực hiện thông qua hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp.

  • Đe dọa trực tiếp: Người phạm tội thực hiện đe dọa bằng lời nói, cử chỉ, hành động… công khai, trực tiếp với người bị hại.
  • Đe dọa gián tiếp: Người phạm tội thực hiện việc đe dọa thông qua các thình thức như: nhắn tin, điện thoại, thư… mà không gặp người bị hại

b) Có hành vi dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác. Được hiểu là dùng các thủ đoạn gây áp lực rất lớn về tinh thần của người bị hại để buộc họ phải giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt theo đòi hỏi mà người phạm tội đưa ra, kèm với việc dùng thủ đoạn đó.
Các thủ đoạn thường sử dụng là lợi dụng những lỗi lầm, khuyết điểm của người bị hại mà người phạm tội biết được để đe dọa sẽ làm ảnh hưởng đến uy tin, danh dự, nhân phẩm của họ (ví dụ: dọa tố cáo bí mật đời tư của một người, mà bí mật sẽ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của ho) hoặc dọa gây ảnh hưởng xấu tới các mối quan hệ xã hội khác như các mối quan hệ kinh doanh (ví dụ: Phát hiện nước giải khát, đóng chai của một công ty có tạp chất, đã dọa công ty này phải đưa ra một khoản tiền lớn để người phạm tội không tiết lộ thông tin này…)
Lưu ý: Thời điểm hoàn thành tội phạm này được tính từ lúc người phạm tội thực hiện xong hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn uy hiếp tinh thần người khác kèm theo đòi hỏi về giao tài sản để (với mục đích) chiếm đoạt. Nếu chỉ thuần túy đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần mà không có hay không gắn liền với yêu cầu về tài sản để chiếm đoạt thì không cấu thành tội phạm này.

  • Nếu người phạm tội mới có hành vi chuẩn bị công cụ, phương tiện, kế hoặc… để doe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng chưa thực hiện được thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội.
  • Hành vi phạm tội đối với bị hại được thực hiện công khai. Công khai là công khai về hành vi phạm tội chứ không phải công khai bản thân người phạm tội. Vì thực tiễn cũng có trường hợp người phạm tội không lộ mặt với bị hại mà chỉ thông qua điện thoại, emaill… đe dọa sẽ dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản.

2.2. Khách thể

Hành vi nêu trên xâm phạm đế quyền sở hữu tài sản của người khác (tương tự như khách thể của tội cướp tài sản).

2.3. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý. Mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là dấu hiệu cấu thành cơ bản tội phạm này.
Về nguyên tắc mục đích chiếm đoạt tài san phải có trước hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn uy hiếp tinh thần khác. Nhưng cũng có trường hợp chuyển hóa tội phạm, có nghĩa là người phạm tội  đã thực hiện một tội phạm khác nhưng sau đó lại xuất hiện mục đích chiếm đoạt tài sản.
Ví dụ: A viết đơn vu khống B với mục đích trả thù, nhưng sau đó lại nảy sinh mục đích chiếm đoạt tài sản của B bằng cách tổng tiền B, nếu không đưa tiền sẽ đưa tin bịa đặt lên báo, lên mạng Internet. Đây là trường hợp chuyển hóa tội phạm thành tội cưỡng đoạt tài sản.

2.4. Chủ thể

Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự

3. Về hình phạt của tội cưỡng đoạt tài sản

Mức hình phạt của tội phạm này được chia thành 04 khung, cụ thể như sau:
a) Khung một (khoản 1).
Có mức phạt tù từ 01 đến 05 năm.
b) Khung hai (khoản 2).
Có mức phạt tù từ 03 đến 10 năm.
c) Khung ba (khoản 3).
Có mức phạt tù từ 07 đến 15 năm.
d) Khung bốn (khoản 4).
Có mức phạt tù từ 12 đến 20 năm.

Nguồn: Chuyên trang học luật trực tuyến (hocluat.vn)

024 3755 8809