
Những chỉ đạo về đường lối trong công tác tư pháp, nhất là tư pháp hình sự hướng tới sự tiến bộ, văn minh, tiếp cận với những tinh hoa của xã hội loài người, trong đó vai trò của luật sư bào chữa ngày càng được khẳng định trên văn bản pháp luật. Tuy nhiên, giữa quy định và thực tế triển khai vẫn tồn tại một khoảng cách lớn, đặt ra nhiều vấn đề cốt lõi cần soi chiếu trực diện từ góc độ con người và thể chế.
1. Bài học lịch sử: Khi lãnh tụ là thân chủ và triết lý về một nền tư pháp bình đẳng
Sự kiện lịch sử này mang lại một thông điệp lập hiến sâu sắc: Ngay cả một bậc vĩ nhân, một nhà cách mạng kiệt xuất trong “Thời đại Hồ Chí Minh” cũng từng là một thân chủ cần đến sự bảo vệ của luật sư.
Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh là người hiểu rõ nhất giá trị của quyền bào chữa và sự cần thiết của một nền tư pháp độc lập, trong sạch. Ngay sau khi lập quốc, ngày 10/10/1945, Bác đã ký Sắc lệnh số 46/SL về tổ chức đoàn luật sư – đặt viên gạch đầu tiên cho nền luật sư cách mạng. Do đó, xây dựng một nền tư pháp bình đẳng, nơi người bào chữa được tôn trọng, chính là kế thừa và thực hiện đúng di nguyện của Nguyễn Ái Quốc về một nhà nước pháp quyền.
2. Yếu tố con người: Tiêu chuẩn nghề nghiệp và bản lĩnh của một Luật sư tranh tụng
Hiện nay, điều kiện và tiêu chuẩn để trở thành một luật sư được quy định khá rõ ràng về mặt quy trình hành chính: Tốt nghiệp cử nhân luật, học lớp đào tạo nghề, tập sự tại cơ sở hành nghề luật và đạt kỳ văn kiểm tra. Ai đáp ứng đủ các điều kiện này cũng có thể đứng vào hàng ngũ luật sư. Tuy nhiên, tranh tụng hình sự là một chiến trường đặc biệt, nơi quyền lợi, tự do, thậm chí là sinh mạng của một con người được định đoạt.
Lĩnh vực tranh tụng cần tới một con người chuyên biệt. Đó phải là người có đầy đủ các tố chất: tư duy phản biện sắc bén, tâm lý vững vàng trước áp lực của quyền lực tố tụng, đạo đức nghề nghiệp kiên định. Bản lĩnh của luật sư tranh tụng không đến từ bằng cấp, mà đến từ sự dũng cảm bước vào phòng xử án để đối trọng một cách sòng phẳng với cơ quan công tố.
- Kỹ năng đọc hồ sơ bóc tách mâu thuẫn, kỹ năng xét hỏi, và nghệ thuật hùng biện tại tòa không thể học thuộc lòng từ sách vở. Nó đòi hỏi một quá trình thực nghiệm lâm sàng lâu dài.
- Luật sư phải trải qua thời gian dài cọ xát với thực tế, chứng kiến và tham gia vào các cung bậc của hoạt động tố tụng thì mới định hình được tư duy tranh tụng hình sự đúng nghĩa. Từ thực tế hiện nay có thể thấy, sự thiếu vắng các chương trình đào tạo chuyên sâu về kỹ năng tranh tụng thực chiến hiện nay đang là một lỗ hổng lớn.
3. Rào cản từ cơ quan tiến hành tố tụng: Những hạn chế tới mức bức xúc
Dù Bộ luật Tố tụng Hình sự đã có nhiều cải tiến, nhưng trên thực tế, hành trình tác nghiệp của luật sư vẫn gặp vô vàn khó khăn mang tính “hệ thống”, xuất phát từ tư duy của một số cơ quan tiến hành tố tụng.
Gây khó khăn về thủ tục hành chính: Thường xuyên diễn ra tình trạng kéo dài thời gian cấp thông báo đăng ký bào chữa; hoãn, né tránh cho luật sư sao chụp tài liệu, hoặc kiểm soát chặt chẽ, gây áp lực khi luật sư tiếp xúc với bị can trong trại giam
Sự bất bình đẳng trong tố tụng, tranh tụng hình thức: Tại nhiều phiên tòa, kiểm sát viên vẫn giữ vị thế “thượng phong”. Có những bản luận tội được chuẩn bị sẵn từ trước và ít khi thay đổi bất chấp các lập luận, chứng cứ mới mà luật sư đưa ra. Việc Hội đồng xét xử “lướt qua” hoặc không đối đáp, bác bỏ luận điểm của luật sư một cách thấu lý đạt tình trong bản án tạo ra tâm lý ức chế, biến phiên tòa thành “kịch bản dàn dựng”.
Lời khuyên mang tính dọa nạt: Ngay từ khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, những người tiến hành tố tụng đã đưa ra những lời khuyên như: “Thuê luật sư để làm gì, tốn tiền?”; “Vụ án này luật sư cãi làm sao được mà thuê?”,…Rất nhiều những luận điệu và ngôn từ nói xấu nghề luật sư, từ đó trở thành tư tưởng hệ thống và quan điểm định hướng cho những người chưa có nhiều hiểu biết về pháp luật.
Vậy điều cần suy ngẫm ở đây, nếu coi thường hay cố tình gây khó khăn cho người bào chữa, có phải chính là vi phạm pháp luật và không tôn trọng tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi trọng đường lối, quan điểm của Đảng và Nhà nước?
4. Điểm nghẽn: Thiếu cơ chế giám sát và “khoảng trống” trong chế tài hình sự
“Vừa đá bóng, vừa thổi còi”: Khi quyền bào chữa bị xâm phạm, luật sư chỉ có quyền khiếu nại đến chính cơ quan thụ lý vụ án. Cơ chế này mang tính khép kín, dẫn đến việc các khiếu nại thường bị bác bỏ hoặc rơi vào im lặng.
Pháp luật thiếu sự răn đe hay chế tài còn lỏng lẻo: Đây là vấn đề bức xúc nhất hiện nay đối với người bào chữa. Khi người tiến hành tố tụng vi phạm (như cố tình không cho gặp mặt bị can, giấu chứng cứ gỡ tội), họ không phải đối mặt với một hậu quả pháp lý rõ ràng nào, cùng lắm chỉ là nhắc nhở hoặc rút kinh nghiệm nội bộ.
5. Đề xuất giải pháp
Sửa đổi luật để cụ thể hóa chế tài nghiêm khắc: Cần sửa đổi Bộ luật Tố tụng Hình sự và Bộ luật Hình sự, quy định rõ ràng, định lượng cụ thể các hành vi vi phạm hoạt động tố tụng hình sự liên quan đến quyền bào chữa. Phải có chế tài xử lý kỷ luật nghiêm khắc, đình chỉ công tác, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự thực chất đối với bất kỳ người tiến hành tố tụng nào cố tình cản trở luật sư tác nghiệp. Vi phạm quyền bào chữa phải được coi là vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng để hủy án.
Xây dựng cơ chế giám sát độc lập: Khép lại quy trình tự giải quyết khiếu nại mang tính nội bộ của các cơ quan tố tụng. Cần thành lập một cơ quan giám sát tư pháp độc lập thuộc Quốc hội để giám sát và xử lý trực tiếp các vi phạm của cơ quan tiến hành tố tụng.
Chuẩn hóa mô hình đào tạo “Luật sư tranh tụng”: Tách biệt mô hình bồi dưỡng luật sư tư vấn và luật sư tranh tụng. Thiết lập cơ chế bắt buộc về thời gian thực nghiệm, tập sự chuyên sâu trong lĩnh vực hình sự dưới sự hướng dẫn của các luật sư tranh tụng gạo cội để tạo nền tảng vững chắc trước khi được cấp phép ra tòa.





