Về cơ chế đảm bảo quyền khiếu nại vụ việc cạnh tranh

Chia sẻ nếu thấy bài hay

Nội dung quy định về quyền khiếu nại vụ việc cạnh tranh trong Luật Cạnh tranh năm 2018 đã có khá nhiều thay đổi so với quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004. Mặc dù chưa được thực thi, song các thay đổi này dường như vẫn chưa thực sự đủ tốt để khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thực thi quyền khiếu nại của mình.

1. Đặt vấn đề

Trên bình diện chung, nếu hiểu “tố quyền” là “quyền của tổ chức, cá nhân cầu viện tới công lý để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của mình khi các quyền và lợi ích đó bị xâm phạm” thì trong bất kỳ lĩnh vực pháp luật nào, việc ghi nhận và đảm bảo, khuyến khích thực thi các quyền này luôn là vấn đề hết sức quan trọng trong một nhà nước pháp quyền.

Trong lĩnh vực pháp luật cạnh tranh, “tố quyền” được hiểu là quyền của doanh nghiệp (thương nhân), người tiêu dùng có thể khiếu nại hay khởi kiện lên cơ quan quản lý cạnh tranh, tòa án trong trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm hại bởi hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh. Việc ghi nhận và đảm bảo quyền khiếu nại hay khởi kiện của thương nhân, người tiêu dùng nhằm chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt là các hành vi hạn chế cạnh tranh gây thiệt hại cho họ là một nội dung hết sức quan trọng trong pháp luật cạnh tranh của bất kỳ quốc gia nào bởi nó không chỉ đảm bảo cho công lý được thực thi mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến tính hiệu quả của pháp luật cạnh tranh tại quốc gia đó. Bảo đảm quyền khiếu nại, khởi kiện trong thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh là một nguyên tắc cần thiết và rất quan trọng trong xây dựng và thực thi pháp luật cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới.

Do tính chất rất đặc thù của pháp luật cạnh tranh là có sự pha trộn giữa “luật công” và “luật tư”, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh là sự pha trộn giữa thủ tục hành chính và thủ tục tư pháp, nên tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, vụ việc cạnh tranh sẽ được khởi xướng bởi sự chủ động nhập cuộc của cơ quan có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm hoặc từ các khiếu nại hay khởi kiện của các tổ chức, cá nhân bị vi phạm. Chính vì vậy, việc thực hiện quyền khiếu nại của các tổ chức, cá nhân là một kênh quan trọng để phát hiện ra hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh để từ đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động điều tra, xử lý theo pháp luật cạnh tranh. Do đó, để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh, để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi phạm pháp luật cạnh tranh, ngoài việc ghi nhận, nhất thiết cần có những giải pháp phù hợp nhằm khuyến khích việc thực hiện quyền khiếu nại của mọi tổ chức, cá nhân.

2. Quy định của pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay về quyền khiếu nại vụ việc cạnh tranh

Ở nước ta hiện nay, quyền khiếu nại về hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh của tổ chức, cá nhân được nghi nhận tại Điều 77 Luật Cạnh tranh 2018 với nội dung: “Tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh (sau đây gọi chung là bên khiếu nại) có quyền khiếu nại đến Ủy ban Cạnh tranh quốc gia”.

Theo quy định của pháp luật cạnh tranh, thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh theo yêu cầu của bên khiếu nại được thực hiện như sau:

2.1. Việc mở thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh theo yêu cầu của bên khiếu nại

Đơn khiếu nại của tổ chức, cá nhân khi đảm bảo đủ các điều kiện và được cơ quan cạnh tranh (Ủy ban Cạnh tranh quốc gia) thụ lý theo thẩm quyền sẽ trở thành một trong hai căn cứ pháp lý để thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh được mở ra. Theo quy định của Điều 80 Luật Cạnh tranh năm 2018, Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ra quyết định điều tra vụ việc cạnh tranh trong trường hợp việc khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã đáp ứng yêu cầu theo quy định và được thụ lý (không thuộc trường hợp bị trả lại hồ sơ khiếu nại).

 2.2. Việc tiếp nhận và thụ lý khiếu nại

– Sau khi tiếp nhận hồ sơ khiếu nại, Ủy ban Cạnh tranh quốc gia trong thời hạn 07 ngày chỉ xem xét tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ. Nếu hồ sơ đảm bảo đầy đủ, hợp lệ theo yêu cầu, Ủy ban Cạnh tranh quốc gia sẽ thông báo cho bên khiếu nại về việc tiếp nhận hồ sơ khiếu nại (Điều 78 Luật Cạnh tranh 2018).

Trong thời hạn 15 ngày tiếp theo, Ủy ban Cạnh tranh quốc gia tiếp tục xem xét hồ sơ khiếu nại có thỏa mãn yêu cầu của Khoản 3 Điều 77 hay không để yêu cầu bổ sung hồ sơ trong thời hạn tối đa là 45 ngày (kể cả trường hợp gia hạn 15 ngày). Hồ sơ khiếu nại theo quy định tại Khoản 3 Điều 77 bao gồm: a) Đơn khiếu nại theo mẫu do Ủy ban Cạnh tranh quốc gia ban hành; b) Chứng cứ để chứng minh các nội dung khiếu nại có căn cứ và hợp pháp; c) Các thông tin, chứng cứ liên quan khác mà bên khiếu nại cho rằng cần thiết để giải quyết vụ việc. Mặc dù tiêu chí đánh giá trong lần thứ hai này không được Luật quy định rõ nhưng ta có thể hiểu rằng, việc xem xét sẽ theo các “tiêu chí nội dung” trên cơ sở việc đánh giá kỹ càng các căn cứ, thông tin mà hồ sơ khiếu nại đã cung cấp.

– Việc tiếp nhận hồ sơ khiếu nại của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia sẽ được thông báo đồng thời cho cả bên khiếu nại và bên bị khiếu nại (Khoản 1 Điều 78). Đây có lẽ cũng là một quy định thể hiện rõ hơn sự chặt chẽ, tính chất “tư pháp” của thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, bởi lẽ, khi được thông báo sớm về việc bị khiếu nại sẽ đảm bảo tốt hơn quyền “bào chữa” của bên bị khiếu nại, đảm bảo tính “tranh tụng” trong tố tụng cạnh tranh, mặc dù tại thời điểm đó, thủ tục điều tra vụ việc cạnh tranh (điều tra trong tố tụng) hoàn toàn chưa mở ra. Chính quy định này đã tạo ra một loại chủ thể tham gia tố tụng mới là bên bị khiếu nại để phân biệt với bên bị điều tra (bên bị khiếu nại chỉ trở thành bên bị điều tra trong trường hợp Ủy ban Cạnh tranh quốc gia ra quyết định điều tra).

Luật Cạnh tranh năm 2018 còn quy định trong thời gian Ủy ban Cạnh tranh quốc gia xem xét và yêu cầu bổ sung hồ sơ, bên khiếu nại có quyền rút đơn khiếu nại và hành vi này sẽ dẫn đến hệ quả pháp lý là Ủy ban Cạnh tranh quốc gia dừng việc xem xét hồ sơ khiếu nại.

2.3. Nghĩa vụ chứng minh của bên khiếu nại

Điều 77 Luật Cạnh tranh 2018 quy định, bên khiếu nại có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh hành vi vi phạm. Bên khiếu nại phải nộp kèm Hồ sơ khiếu nại chứng cứ để chứng minh các nội dung khiếu nại là có căn cứ và hợp pháp cùng các thông tin, chứng cứ liên quan khác mà bên khiếu nại cho rằng cần thiết để giải quyết vụ việc. Như vậy, nghĩa vụ chứng minh của bên khiếu nại được áp dụng chung cho cả vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, vụ việc hạn chế cạnh tranh và vụ việc vi phạm các quy định về tập trung kinh tế.

2.4. Thời hiệu và cách tính thời hiệu khiếu nại

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 77 Luật Cạnh tranh 2018, thời hiệu khiếu nại vụ việc cạnh tranh là 03 năm và cách tính thời hiệu là kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện.

3. Một số nhận xét về việc đảm bảo quyền khiếu nại vụ việc cạnh tranh ở Việt Nam.

3.1. Về yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra

Trong nội dung giải quyết vụ việc cạnh tranh tại cơ quan cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay không đặt ra vấn đề giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân do hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh gây ra. Điều 110 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định, “tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật”. Về nguyên tắc, sau khi quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có hiệu lực, tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh sẽ có quyền khởi kiện tại tòa dân sự theo thẩm quyền để yêu cầu bồi thường thiệt hại căn cứ theo các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra là điều rất bất hợp lý vì thiệt hại trong cạnh tranh là một loại thiệt hại đặc thù và rất khó chứng minh, đồng thời mức bồi thường theo Bộ luật Dân sự (Điều 585) sẽ không thể vượt quá mức thiệt hại thực tế xảy ra. Theo thông lệ chung trên thế giới, vấn đề bồi thường thiệt hại sẽ do cơ quan tư pháp có thẩm quyền giải quyết[1], nhưng pháp luật cạnh tranh các nước thường có những quy định riêng với cơ chế khởi kiện và mức bồi thường rất đặc thù để điều chỉnh vấn đề kiện đòi bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh gây ra.

Như vậy, việc thực hiện quyền khiếu nại theo Luật Cạnh tranh sẽ không mang lại những “bồi hoàn” về vật chất và tinh thần cho người bị thiệt hại bởi hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh. Để đạt được mục đích này, họ phải theo đuổi một vụ kiện khác theo một quy trình tố tụng khác – tố tụng dân sự tại Tòa án. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, khi thực hiện quyền khiếu nại để mở thủ tục cạnh tranh, bên khiếu nại thực chất chỉ quan tâm tới lợi ích của mình chứ không hẳn đã quan tâm tới mục đích bảo vệ cạnh tranh trên thị trường bởi đó là trách nhiệm của Nhà nước. Do đó, khi mục đích chính của họ (đòi bồi thường thiệt hại) không đạt được thì việc họ cung cấp thông tin về hành vi vi phạm cho cơ quan cạnh tranh sẽ dễ dàng hơn nhiều việc họ thực hiện quyền khiếu nại, bởi trong trường hợp này, họ sẽ không mất thời gian, chi phí để theo đuổi vụ việc, lại không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ chứng minh. Thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh trong trường hợp này chỉ đơn giản là việc cơ quan cạnh tranh với chức năng “nửa hành chính – nửa tư pháp” của mình, tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh để ra phán quyết và áp dụng các chế tài hành chính đối với bên có hành vi vi phạm. Trong thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, dường như Nhà nước “được lợi” nhiều hơn bên khiếu nại. Cơ quan cạnh tranh thông qua việc xử lý hành vi vi phạm thực hiện được chức năng chính của mình là điều tiết và bảo vệ cạnh tranh trên thị trường nhưng mục đích của bên khiếu nại là yêu cầu bồi thường thiệt hại thì lại không đạt được. Khi tính chất“hành chính” trở thành nổi trội hơn tính chất “tư pháp” trong thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh, quy trình tố tụng cạnh tranh lúc này sẽ được xây dựng theo hướng nhằm đảm bảo việc xử lý vụ việc cạnh tranh nhanh, gọn, linh hoạt, hướng đến mục đích bảo vệ thị trường hơn là chi tiết, chặt chẽ nhằm đảm bảo tối đa quyền và lợi ích hợp pháp cho các tổ chức, cá nhân như thủ tục tư pháp.

3.2. Về thời hiệu khiếu nại:

Việc Luật Cạnh tranh năm 2018 xác định thời hiệu khiếu lại là 3 năm nhưng áp dụng chung cho cả vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và vụ việc hạn chế cạnh tranh được coi là chưa phù hợp với đặc trưng của các vụ việc hạn chế cạnh tranh và thông lệ quốc tế.

Đặc trưng của các hành vi hạn chế cạnh tranh thường diễn ra kéo dài, liên tục. Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thường có xu hướng được “che giấu” nhằm tránh bị xử lý bởi cơ quan có thẩm quyền nên rất khó bị phát hiện và chứng minh. Trong khi đó, do khả năng tác động xấu và phạm vi ảnh hưởng rộng đến trật tự cạnh tranh trong nền kinh tế, nên yêu cầu đối với cơ quan cạnh tranh trong việc điều tra, xử lý những hành vi này lại rất lớn. Kinh nghiệm thực thi pháp luật chống hạn chế cạnh tranh trên thế giới đã cho thấy có những hành vi gây hạn chế cạnh tranh (đặc biệt là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh) kéo dài từ 5 – 10 năm, thậm chí, có trường hợp kéo dài đến 40 năm gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho nền kinh tế[2].

Bên cạnh đó, việc Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định thời hiệu khiếu nại chung cho các loại vụ việc cạnh tranh (bao gồm vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, vụ việchạn chế cạnh tranh và vụ việc vi phạm các quy định về tập trung kinh tế) là không phù hợp với tính chất của các loại vụ việc này và có thể chính cách quy định như vậy đã dẫn đến hệ quả là thời hiệu dành cho vụ việc hạn chế cạnh tranh quá ngắn. Đa số các hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm và gây thiệt hại một cách trực tiếp cho một đối thủ cạnh tranh cụ thể nào đó, có thể xác định được (ví dụ: như hành vi dèm pha, bôi nhọ, chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm phạm bí mật kinh doanh…), do đó, về nguyên tắc, pháp luật cạnh tranh không lành mạnh được xây dựng theo thiên hướng “luật tư”. Ngược lại, các hành vi hạn chế cạnh tranh xâm hại tới môi trường cạnh tranh, trật tự nền kinh tế và người tiêu dùng nói chung, do đó, được điều chỉnh theo nguyên tắc và yêu cầu của “luật công” (tất nhiên, sự phân biệt giữa “luật công” hay “luật tư” ở đây chỉ có ý tương đối)[3]. Do đó, thời hiệu để khiếu nại hay điều tra một vụ việc hạn chế cạnh tranh không thể quy định chung với thời hiệu của một vụ việc cạnh tranh không lành mạnh.

3.3. Về cách tính thời hiệu khiếu nại

Theo quy định tại Điều 77, Điều 80 Luật Cạnh tranh năm 2018, thời hiệu khiếu nại vụ việc cạnh tranh được tính từ thời điểm hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện.

 Hành vi vi phạm luật cạnh tranh nói chung thường có đặc tính là kéo dài, lặp đi, lặp lại, vì vậy, thời hiệu sẽ được bắt đầu tính từ thời điểm hành vi vi phạm cuối cùng diễn ra. Trên thực tế, sẽ xảy ra trường hợp hành vi vi phạm đã diễn ra trong một thời gian dài mới bị phát hiện và khi phát hiện thì thời hiệu khiếu nại đã hết nhưng những tác động xấu, bất lợi cho môi trường cạnh tranh hay những thiệt hại mà hành vi đó gây ra hoặc có thể gây ra cho đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng vẫn còn tồn tại thì việc điều tra, xử lý cũng không thể diễn ra. Vấn đề này sẽ không có gì phải bàn cãi trong trường hợp đây là một thủ tục tố tụng được thiết kế nhằm giải quyết một vấn đề thuộc về lĩnh vực “luật tư” thuần túy, trong khi đó, cần nhấn mạnh rằng, tố tụng cạnh tranh là một loại tố tụng có sự pha trộn giữa các yếu tố của “luật công” và “luật tư”. Hiện nay, Luật Cạnh tranh của rất nhiều nước trên thế giới sử dụng cách tính thời hiệu kể từ thời điểm bên khiếu nại hoặc cơ quan có thẩm quyền phát hiện ra hành vi vi phạm, đặc biệt là trong các khiếu nại (khởi kiện) có kèm theo yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại. Thậm chí có những quốc gia sử dụng hai loại thời hiệu tương ứng với hai cách tính thời hiệu cho cùng một khiếu nại. Điều 33 Luật Thương mại lành mạnh Đài Loan năm 1999 quy định: “Quyền đòi bồi thường thiệt hại sẽ vị bãi bỏ nếu không thực hiện trong vòng 02 năm kể từ khi người đòi bồi thường biết hành vi vi phạm và biết người chịu trách nhiệm về thiệt hại đó hoặc trong vòng 10 năm kể từ khi xác nhận là có hành vi vi phạm”.

3.4. Về nghĩa vụ chứng minh của bên khiếu nại

Việc Luật Cạnh tranh quy định bên khiếu nại có nghĩa vụ chứng minh nội dung khiếu nại của mình là có căn cứ và hợp pháp trong cả hai loại vụ việc là vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và vụ việc hạn chế cạnh tranh là chưa hợp lý và cần được xem xét lại bởi những lý do:

– Đối với vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, do pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, như đã phân tích ở trên, được xem là theo thiên hướng “luật tư” nên trong thủ tục giải quyết các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, người ta sẽ không ngạc nhiên nếu pháp luật quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên khiếu nại.

– Đối với vụ việc hạn chế cạnh tranh, do mục đích của pháp luật chống hạn chế cạnh tranh là để kiểm soát các hành vi xâm hại trật tự cạnh tranh, cấu trúc thị trường và thông qua đó để bảo vệ, duy trì cạnh tranh. Theo mục đích này, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh phải là “luật công”, để bảo vệ trật tự công và các lợi ích công. Do đó, việc điều tra, xử lý các hành vi vi phạm là thuộc về nhiệm vụ, chức năng của cơ quan cạnh tranh. Chính vì vậy, về nguyên tắc, đối với loại việc này, khi thực hiện quyền khiếu nại, bên khiếu nại chỉ cần đưa ra căn cứ khiếu nại, còn nghĩa vụ chứng minh phải thuộc về cơ quan cạnh tranh[4]. Thậm chí, ngay trong các vụ việc hạn chế cạnh tranh cũng cần phân biệt nghĩa vụ chứng minh giữa loại việc thỏa thuận hạn chế cạnh tranh với loại việc lạm dụng quyền lực thị trường. Hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là loại hành vi khó phát hiện và chứng minh nhất (vì thông thường các chủ thể thực hiện hành vi này do biết tính trái luật của hành vi và chế tài rất nặng có thể phải đón nhận nếu bị phát hiện nên thường cố tình “che giấu”), để thu thập được chứng cứ chứng minh đòi hỏi phải có cơ quan điều tra với đầy đủ thẩm quyền, các nhân viên điều tra có kinh nghiệm, kỹ năng, nghiệp vụ, do đó, nghĩa vụ chứng minh sẽ hoàn toàn thuộc về cơ quan cạnh tranh. Đối với hành vi lạm dụng quyền lực thị trường, hành vi thường biểu hiện ra bên ngoài, dễ nhận thấy trong mối quan hệ với đối tác, khách hàng (ví dụ hành vi ấn định giá, phân biệt đối xử, áp dụng các điều kiện thương mại bất lợi…), nhưng việc xác định điều kiện chủ thể (có quyền lực thị trường hay không) lại là vấn đề không dễ dàng với bên khiếu nại. Trong những vụ việc này, theo kinh nghiệm thực thi pháp luật cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới, người ta tìm cách san sẻ nghĩa vụ chứng minh giữa người khiếu nại và người bị nghi vấn lạm dụng quyền lực thị trường; quyền điều tra và kết luận được dành cho cơ quan cạnh tranh. Thủ tục thu thập chứng, đánh giá chứng cứ và phán quyết của cơ quan cạnh tranh được tiến hành tương tự như cơ quan tư pháp[5].

Như vậy, cách quy định chung về nghĩa vụ chứng minh cho bên khiếu nại như hiện nay trong pháp luật cạnh tranh sẽ không khuyến khích, thậm chí gây khó khăn cho việc thực hiện quyền khiếu nại của các tổ chức, cá nhân, hạn chế khả năng phát hiện, điều tra và xử lý các vi phạm pháp luật cạnh tranh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ Công thương, Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các Uỷ ban của Quốc hội đối với dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi), ngày 11/10/2017;
  2. Chính phủ, Tờ trình tóm tắt về Dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi), ngày 6/9/2017;
  3. Cục Quản lý cạnh tranh, Luật Chống độc quyền Nhật Bản và kinh nghiệm thực thi; 2007;
  4. Trần Thúc Linh, Danh từ pháp luật lược giải, Nhà sách Khai trí, Sài Gòn, 1964;
  5. UNCTAD, Luật mẫu về cạnh tranh (Hoàng Xuân Bắc dịch), 2000;
  6. Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo Luật kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004;
  7. Nguyễn Như Phát, Lê Anh Tuấn, Một số quy định về tố tụng cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh Việt Nam, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 213, tháng 1/2006, tr. 41-50.

Bài viết được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 21, kỳ 1 – tháng 11/2018

ThS. Trần Anh Tú, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Be the first to comment

Leave a Reply