Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thực phẩm không an toàn gây ra

Ảnh minh họa (Nguồn: thanhnien.vn)

Chia sẻ nếu thấy bài hay

Chưa bao giờ người dân lại đối diện với “cái chết” cận kề từ bàn ăn như bây giờ. Liên tiếp hàng loạt vụ thực phẩm bẩn bị phanh phui như lợn nuôi bằng chất tạo nạc, chuối dấm thuốc diệt cỏ… đã khiến người tiêu dùng hoang mang, lo ngại. Một trong những nguyên nhân của tình trạng vi phạm an toàn thực phẩm tràn lan như hiện nay là do hệ thống pháp luật chưa đủ sức răn đe, việc thực thi pháp luật về an toàn thực phẩm chưa nghiêm minh, và đặt biệt quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thực phẩm không an toàn gây ra còn  nhiều hạn chế.

Abstract: It has never ever closely faced with the “deaths” at the table as the present. Series of batch of dirty foods was exposed as pigs raised by the muscle drugs, bananas soaked with herbicides etc., which has caused the consumers with panic, anxiety. One of the causes of widespread of unsafety foods is the inadequate enforcements of the legal system, the silence of enforcement of the food safety laws, specially there are several weaknessess of the legal regulations on the compensation liability for damages caused by unsafe food usages.

Keywords: food safety; dirty foods; compensation for damages; Law on Food Safety; Civil Code.

An toàn thực phẩm (ATTP) đang là nỗi nhức nhối của cả nước. Theo con số báo cáo thống kê chính thức của Cục ATTP (Bộ Y tế), mỗi năm Việt Nam có khoảng 250 – 500 vụ ngộ độc thực phẩm ảnh hưởng tới từ 7.000 đến 10.000 nạn nhân và làm khoảng 100 đến 200 người chết mà nguyên nhân được xác định là do thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật (khoảng 33%), do thực phẩm bị ô nhiễm hóa chất (khoảng 27%), do thực phẩm vốn hàm chứa các chất độc tự nhiên (khoảng 37,5%), do thức ăn bị nhiễm thuốc trừ sâu (phun hàm lượng cao, không cách ly với ngày thu hoạch) hay các chất phụ gia (hàn the, màu công nghiệp, đường hóa học) với dư lượng độc tố cao[1]… Bộ Y tế cũng cho biết, trong 11 tháng đầu năm 2017, toàn quốc ghi nhận 139 vụ ngộ độc thực phẩm với 3.869 người mắc, trong đó 3.700 người đi viện và 24 trường hợp chết[2]. Hậu quả lâu dài của nạn thực phẩm bẩn được Bộ Y tế thống kê: mỗi năm Việt Nam có khoảng 150.000 ca mới mắc ung thư và có trên 75.000 người tử vong do ung thư mà có nguyên nhân từ việc sử dụng thực phẩm “bẩn” như thực phẩm có sử dụng chất kích thích, chất tăng trọng, thuốc bảo vệ thực vật quá dư lượng[3]. Các nhà nghiên cứu của WHO (Tổ chức Y tế thế giới) dự đoán rằng, đến năm 2020, số lượng các ca mắc ung thư ở Việt Nam sẽ xấp xỉ 200.000 ca, và sẽ trở thành nước có tỷ lệ ung thư cao nhất thế giới[4].

Dù hậu quả nặng nề như vậy, chưa kể đến sự ảnh hưởng rất xấu tới giống nòi và chất lượng dân số, tệ nạn vi phạm các quy định pháp luật về ATTP rất khó kiểm soát. Theo thống kê của Bộ Y tế, trong 6 tháng đầu năm 2017, cả nước có 81.115 cơ sở kinh doanh vi phạm ATTP bị phát hiện, trong đó: 7.546 cơ sở đã bị xử lý; 299 cơ sở bị đình chỉ hoạt động; 303 loại thực phẩm bị đình chỉ lưu hành; 659 cơ sở có nhãn thực phẩm phải khắc phục; 3.749 cơ sở bị tiêu hủy sản phẩm với 4.175 loại thực phẩm bị tiêu hủy do không đảm bảo chất lượng ATTP[5].

Các con số thống kê biết nói này mới chỉ được xem là phần nổi của tảng băng chìm. Có lẽ khó có thể phát hiện đầy đủ và thống kê được những vi phạm ATTP của các hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ dù rằng đây là một nguồn gây hại lớn cho xã hội bởi hầu hết người Việt ở khu vực phi nông nghiệp đều tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp của các hộ này. Gần đây nhất, các phương tiện thông tin đại chúng rầm rộ đưa tin về vụ việc nhuộm cà phê phế phẩm bằng bột lõi pin mà có thể gây nguy hại tới hệ thần kinh của người tiêu dùng.

Với thực trạng xã hội như vậy diễn ra trong khoảng hai thập kỷ qua, Quốc hội Việt Nam đã nỗ lực thông qua bốn đạo luật lớn có liên quan trực tiếp tới việc bảo đảm ATTP, kế thừa các văn bản trước đó. Các đạo luật này bao gồm: Luật ATTP năm 2010, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (QLNTD) năm 2010, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017). Tuy nhiên, trong bài viết này, các chế tài hình sự, các chế tài hành chính và các chế tài dân sự khác (ngoài chế tài bồi thường thiệt hại (BTTH) ngoài hợp đồng do thực phẩm không an toàn gây ra) chưa được đề cập tới.

Luật ATTP năm 2010 định nghĩa: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản…” (Điều 2, khoản 20); và xem “ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người” (Điều 2, khoản 1). Tuy nhiên, đạo luật này không chú trọng tới và không quy định cụ thể về các chế tài như Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc (một quốc gia láng giềng có ảnh hưởng lớn tới vấn đề ATTP ở Việt Nam), ngoài một số quy định dập khuôn xuất hiện trong phần lớn các đạo luật của Việt Nam hiện nay. Trong các quy định dập khuôn đó có nhắc tới chế tài dân sự như sau: “Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về ATTP thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường và khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật” (Điều 6, khoản 1). Vì vậy muốn áp dụng chế tài bồi thường nói trên tại các quy định này cần phải tìm tới các gợi ý của các đạo luật liên quan trực tiếp vừa nói. Tuy nhiên cần lưu ý rằng quy định dập khuôn này có mâu thuẫn với chính các điều kiện để áp dụng chế tài BTTH do thực phẩm không an toàn gây ra do đạo luật khác quy định.

Luật ATTP năm 2010 có nói tới một đường dẫn tại Điều 9, khoản 1, điểm c & đ của luật này rằng: “Người tiêu dùng thực phẩm có các quyền… (c) Yêu cầu tổ chức bảo vệ QLNTD bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về bảo vệ QLNTD;… (đ) Được BTTH theo quy định của pháp luật do sử dụng thực phẩm không an toàn gây ra”. Đường dẫn này cho chúng ta thấy sự kết nối của các đạo luật nói trên bằng chính các quy định của chúng mà không cần phải suy luận nhiều thông qua lý thuyết.

Luật ATTP năm 2010 của Việt Nam xác định phạm vi áp dụng của luật đối với việc bảo đảm ATTP; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với ATTP; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về ATTP; thông tin, giáo dục, truyền thông về ATTP; trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP (Điều 1). Các quy định này cho thấy nhiều mối quan hệ, không chỉ riêng mối quan hệ chủ yếu giữa người sản xuất, người phân phối thực phẩm với người tiêu dùng. Trong nhiều mối quan hệ đó có cả mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý, kiểm soát ATTP với đối tượng bị quản lý, giám sát và người tiêu dùng. Do đó Luật ATTP năm 2010 cũng dự liệu: “Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm quy định của Luật này hoặc các quy định khác của pháp luật về ATTP thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” (Điều 6, khoản 2). Tuy nhiên, các quy định dập khuôn này lại thiếu sự chỉ dẫn cụ thể để có thể áp dụng chế tài BTTH đối với những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

So sánh với Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc, có thể thấy cách thức quy định phạm vi áp dụng của Luật ATTP năm 2010 của Việt Nam không rành mạch về các mối quan hệ, mà có khuynh hướng liệt kê các công đoạn trong nghiệp vụ bảo đảm an toàn phẩm. Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc áp dụng cho bất kỳ người nào tiến hành bất kỳ một hoạt động nào trong các hoạt động sau đây (Điều 2): (1) Sản xuất, chế biến và bán, phục vụ ăn uống (được gọi chung là sản xuất và phân phối thực phẩm); (2) sản xuất và phân phối phụ gia thực phẩm; (3) sản xuất và phân phối nguyên vật liệu  bao bì, đóng gói, vật chứa đựng, chất làm sạch và chất tẩy rửa được sử dụng cho thực phẩm và dụng cụ, thiết bị được sử dụng cho sản xuất và phân phối thực phẩm (được gọi chung là sản phẩm liên quan tới thực phẩm); (4) sử dụng phụ gia thực phẩm và sản phẩm liên quan tới thực phẩm trong trường hợp của người sản xuất và phân phối thực phẩm; (5) Kho bãi và vận chuyển thực phẩm; và (6) quản lý ATTP, phụ gia thực phẩm và sản phẩm liên quan tới thực phẩm (Điều 2). Trong khi đó, BLDS Pháp sửa đổi chủ yếu nhằm tới mối quan hệ giữa người sản xuất và người tiêu dùng, sau đó mở rộng tới những chủ thể khác trong các Điều 1386 – 6 và Điều 1386 – 7.

Luật ATTP năm 2010 chỉ rõ nguyên tắc liên quan là: “Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh” (Điều 3, khoản 2). Như vậy BTTH là một hệ quả tất yếu của nguyên tắc này.

Để một người phải BTTH cho người khác, thì về mặt lý thuyết, có thể có ba giải pháp được lựa chọn: thứ nhất, người đó chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường khi người đó có lỗi đã được chứng minh; thứ hai, người đó phải chịu trách nhiệm trừ khi người đó chứng minh được rằng mình không có lỗi; và thứ ba, người đó phải chịu trách nhiệm trừ khi người đó chứng minh được rằng mình gặp trường hợp bất khả kháng[6]. Tất cả các nước được xem như có một hình thức trách nhiệm dân sự cổ điển được xây dựng trên nguyên tắc căn bản rằng khi một người gây thiệt hại cho người khác với một vài mức độ lỗi nhất định (thông thường là bất cẩn) thì thiệt hại đó phải được bồi thường – những quy tắc được quy định rõ ràng hoặc ở trong một phần của BLDS hoặc thông qua common law được phát triển qua án lệ hoặc qua việc ban hành chính thức hóa common law[7]. Trong đời sống hiện đại, việc gây ảnh hưởng hay thiệt hại cho người khác có nhiều dạng thức phức tạp. Hiện nay, các vi phạm ATTP ở Việt Nam có thể làm người tiêu dùng có cảm giác thỏa mãn khi được tiêu dùng thực phẩm không an toàn bởi dáng vẻ bề ngoài bắt mắt của chúng, và đôi khi kể cả độ thưởng thức của chúng… Để có được dáng vẻ bề ngoài và độ thưởng thức khiến người tiêu dùng thỏa mãn, thì những hành vi vi phạm nguy hiểm đã được tiến hành, chẳng hạn: chăn nuôi heo cho sử dụng chất tạo nạc; thủy sản sử dụng kháng sinh vượt ngưỡng; cá được ủ ướp trong phân urê; rau bị tưới thuốc bảo vệ thực vật vượt giới hạn cho phép; trái cây “tắm” trong hóa chất độc hại[8]… Đây là các hành vi vi phạm tiêu chuẩn ATTP và sản xuất thực phẩm không đúng quy trình. Việc phải gánh chịu chế tài về việc gây thiệt hại là không phải bàn cãi. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam tỏ ra nghiêm khắc hơn đối với những hành vi gây thiệt hại để hướng tới bảo vệ người tiêu dùng. Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 của Việt Nam định nghĩa: “Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa đó được sản xuất theo đúng tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm: (a) Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; (b) Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ; (c) Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng” (khoản 3 Điều 3).

Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm BTTH trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật” (khoản 1 Điều 23). Những người kinh doanh (tổ chức và cá nhân) nói trong các quy định này có thể hiểu tóm lược đơn giản là những người sản xuất và những người phân phối sản phẩm hàng hóa. Như vậy, họ phải chịu trách nhiệm đối với sản phẩm liên quan tới khuyết tật của nó. Black’s Law Ditionary giải thích: “Trách nhiệm sản phẩm ám chỉ tới trách nhiệm pháp lý của người sản xuất và người bán bồi thường người mua, người sử dụng, và thậm chí người ngoài cuộc về những thiệt hại hay thương tật phải gánh chịu bởi những khuyết tật của hàng hóa được mua sắm”[9].

Theo các quy định trên của pháp luật Việt Nam, người sản xuất hay người phân phối thực phẩm phải BTTH cho người tiêu dùng khi hội đủ các điều kiện sau: (1) thực phẩm có khuyết tật; (2) có thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, và (3) có mối quan hệ nhân quả giữa thực phẩm có khuyết tật với thiệt hại. Yếu tố nhận thức và yếu tố lỗi của người sản xuất hoặc của người phân phối liên quan tới khuyết tật của hàng hóa không được xem xét đến, trừ khi chứng minh được khuyết tật của thực phẩm không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm cung cấp cho người tiêu dùng. Nghĩa vụ chứng minh như vậy thuộc về bị đơn (Điều 24, Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010). Vấn đề sản xuất đúng hay không đúng với tiêu chuẩn an toàn hay quy trình kỹ thuật không được pháp luật Việt Nam quan tâm để xem xét việc bồi thường (khoản 3 Điều 3 Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010). BLDS sửa đổi của Pháp cũng quan niệm rằng: “Người sản xuất có thể phải chịu trách nhiệm về khuyết tật mặc dù sản phẩm đã được sản xuất phù hợp các quy tắc thương mại hoặc tiêu chuẩn hiện hành hoặc mặc dù nó là đối tượng của một sự cho phép hành chính” (Điều 1386 – 10). Tuy nhiên, BLDS sửa đổi của Pháp có các quy định tại Điều 1386 – 11 cho phép người sản xuất chứng minh để miễn hoặc giảm trách nhiệm trong một số trường hợp. Ở đây cần lưu ý thêm rằng Luật ATTP năm 2010 và Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 có độ lệch nhất định khi nói tới thiệt hại. Luật ATTP năm 2010 không đề cập tới thiệt hại về tài sản, trong khi đó Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 có đề cập tới thiệt hại về tài sản. Nói cho đúng, các sản phẩm thực phẩm cũng có thể gây thiệt hại về tài sản, nhất là các chất phụ gia.

Theo quan niệm của Common Law, hành vi gây thiệt hại (tort) mà khiến người sản xuất phải chịu trách nhiệm, nếu sản phẩm của người này có một tình trạng khuyết tật mà làm nó nguy hiểm một cách bất hợp lý đối với người sử dụng hoặc người tiêu dùng[10]. Trách nhiệm nghiêm ngặt thường được ấn định trong trường hợp sản phẩm được sản xuất có khuyết tật (trách nhiệm sản phẩm). Trách nhiệm nghiêm ngặt là trách nhiệm pháp lý đối với trường hợp gây thiệt hại thậm chí người gây thiệt hại không có lỗi. Để chứng minh trách nhiệm BTTH, nguyên đơn chỉ cần chứng minh rằng hành vi trái luật gây thiệt hại đã xảy ra và bị đơn có trách nhiệm bởi hành động hay sự bất cẩn của mình. Trong trách nhiệm nghiêm ngặt ở Hoa Kỳ, thiện chí, cũng như sự kiện mà tại đó nguyên đơn áp dụng tất cả các biện pháp phòng ngừa có thể đều là những biện hộ không có giá trị.

Theo các nguyên lý nêu trên, có thể thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, trách nhiệm sản phẩm không phải là trách nhiệm nghiêm ngặt mà là trách nhiệm tuyệt đối, có nghĩa là không cần tới yếu tố lỗi của bị đơn và cũng không chấp nhận bất kỳ sự biện hộ nào liên quan tới yếu tố lỗi hay yếu tố vi phạm, trừ một trường hợp như đã nói trên. Thế nhưng, dường như có sự mâu thuẫn giữa quy định về nguyên tắc trách nhiệm tuyệt đối đối với sản phẩm nói trên trong Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 của Việt Nam với chính các quy định của Luật này về nghĩa vụ chứng minh. Cụ thể, khoản 2 và khoản 3 Điều 42 Luật này quy định: “(2) Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại. (3) Tòa án quyết định bên có lỗi trong vụ án dân sự về bảo vệ QLNTD”. Trong khi đó, Luật này chỉ quy định một trường hợp được miễn trách nhiệm như đã nói ở trên.

Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc được xem là một đạo luật nghiêm ngặt nhất. Trách nhiệm sản phẩm của đạo luật này được quy định như sau: “Bất kỳ ai vi phạm Luật này mà gây thiệt hại về người hoặc tài sản hoặc các dạng thiệt hại khác phải chịu trách nhiệm BTTH. Trong trường hợp mà tài sản của bất kỳ người sản xuất hay phân phối nào không đủ để đồng thời chi trả bồi thường dân sự và phạt hành chính và hình sự, thì khoản bồi thường dân sự được thi hành trước” (Điều 147). Các quy định này có hai khác biệt so với các quy định của pháp luật Việt Nam về BTTH do sản phẩm gây ra: thứ nhất, các quy định này đòi hỏi có sự vi phạm. Có thể thấy rõ hơn nữa sự đòi hỏi yếu tố vi phạm tại Điều 148 của Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc với các quy định như sau: “Bất kỳ người tiêu dùng nào mà bị thiệt hại bởi thực phẩm mà không tuân thủ tiêu chuẩn ATTP có thể đòi bồi thường đối với hoặc người phân phối hoặc người tiêu dùng”; thứ hai, các quy định này xác định rõ thứ tự được ưu tiên thi hành trong trường hợp vừa có bản án hình sự ấn định khoản phạt, vừa có quyết định hay bản án hành chính ấn định khoản phạt và vừa có bản án về BTTH liên quan tới một vi phạm.

Chúng tôi cho rằng, các nhà lập pháp Việt Nam nên cân nhắc tiếp thu những kinh nghiệm nêu trên để minh bạch hơn trong việc thi hành các bản án hay các quyết định trên tài sản của người dân, và chống lại sự ưu ái quá đáng với ngân sách nhà nước.

Sau kỷ niệm 200 năm sự ra đời của BLDS Pháp (1804 – 2004), các luật gia Pháp đã phải xem xét làm thế nào để các quy định về nghĩa vụ được cập nhật phản ánh sự phát triển hiện đại, thoát khỏi sự tụt hậu so với sự phát triển về pháp lý đã được chấp nhận rộng rãi bởi các bộ pháp điển hóa ở châu Âu (ví dụ như BLDS Đức năm 2002), và khắc phục tình trạng pháp luật của Pháp ít được gắn với các nhu cầu thương mại và bị các bên trong giao dịch thương mại quốc tế hờ hững lựa chọn làm luật áp dụng[11]. Vì thế BLDS Pháp đã sửa đổi, bổ sung mà hiện nay trong đó có Mục IV Bis có các điều từ Điều 1386 -1 tới Điều 1386 -18 nói về trách nhiệm đối với sản phẩm có khuyết tật.

BLDS Pháp sửa đổi tuyên bố tại Điều 1386-1 rằng: “Người sản xuất có trách nhiệm đối với những thiệt hại được gây ra bởi khuyết tật trong sản phẩm của mình, không kể người này có bị ràng buộc bởi hợp đồng với người bị thiệt hại hay không”. Sản phẩm ở đây được xem là bất kỳ động sản nào, mặc dù được hợp nhất với một bất động sản, bao gồm những sản phẩm của đất trồng, của của chăn nuôi, của săn bắn và đánh bắt (Điều 1836 – 3). Thậm chí, điện cũng được xem là một loại sản phẩm ((Điều 1836 – 3). Như vậy bất kỳ một động sản nào hay điện được nhà sản xuất nào tạo ra cho tiêu dùng đều được xem là sản phẩm, và hễ có khuyết tật gây thiệt hại cho người và tài sản đều phải chịu trách nhiệm, mà trong đó các sản phẩm của nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp được chỉ rõ. Sản phẩm được xem là có khuyết tật khi nó không đưa tới sự an toàn mà một người có quyền được mong đợi (Điều 1386 – 4). Định nghĩa này về khuyết tật của sản phẩm trừu tượng hơn so với các giải nghĩa của pháp luật Việt Nam. Điều 1386 – 4 tại đoạn 2 & 3 có giải thích rằng: “Để đánh giá sự an toàn mà một người được quyền mong đợi, cần có sự quan tâm tới tất cả các hoàn cảnh và cụ thể tới sự phô bày của sản phẩm, sự sử dụng mà một người có thể mong đợi một cách hợp lý rằng nó nhẽ ra được đem đến, và thời điểm mà sản phẩm được đưa vào lưu thông. Một sản phẩm không được coi là có khuyết tật chỉ bởi một lý do duy nhất rằng một sản phẩm tốt hơn sau đó được đưa vào lưu thông”. Có thể thấy các quy định này của BLDS Pháp sửa đổi có trình độ trừu tượng rất cao, không cung cấp ngay một giải pháp cho các tranh chấp cụ thể mà phải có sự giải thích tư pháp. So sánh với các quy định này, có thể có nhận xét rằng, các quy định của Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 của Việt Nam không có nhiều đặc trưng của luật tư mà giống với các quy định của luật hành chính. Bản thân định nghĩa “hàng hóa khuyết tật” tại khoản 3 Điều 3 của đạo luật này mang tính kỹ thuật hơn là tính pháp lý, khi liệt kê các trường hợp có thể làm phát sinh ra các khuyết tật. Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 của Việt Nam không có các quy định liên quan tới trách nhiệm của người thuê trong việc cung cấp sản phẩm không an toàn, trong khi dịch vụ cho thuê ở Việt Nam đang phát triển. Trong khi đó BLDS sửa đổi của Pháp có dự liệu cả những vấn đề liên quan tới thuê, kể cả thuê tài chính tại Điều 1386 – 7. BLDS sửa đổi của Pháp có các quy định cụ thể về trách nhiệm liên đới, ví dụ tại Điều 1386 – 8 có quy định: “Trong trường hợp thiệt hại gây ra bởi một sản phẩm hợp nhất với một sản phẩm khác, thì  người sản xuất của bộ phận hợp thành và người mà đã tác động tới sự hợp nhất có trách nhiệm liên đới”.

Luật ATTP năm 2015 của Trung Quốc có các quy định về trách nhiệm liên đới (Điều 148 quy định người sản xuất và người phân phối có trách nhiệm liên đới đối với yêu cầu đòi bồi thường từ người tiêu dùng). Trong khi đó, Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 của Việt Nam không quy định về vấn đề này, trừ một trường hợp có đề cập tới trách nhiệm liên đới giữa người kinh doanh hàng hóa với bên thứ ba cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng. Trong trường hợp này, người thứ ba có thể loại bỏ trách nhiệm liên đới nếu chứng minh đã thực hiện tất cả các biện pháp theo quy định của pháp luật để kiểm tra tính chính xác, đầy đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ (điểm c khoản 1 Điều 13).

BLDS năm 2015 của Việt Nam chỉ quy định 1 điều về BTTH đối với người tiêu dùng như sau: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hoá, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường” (Điều 608). Do đó, Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 dẫn chiếu tới BLDS năm 2015 chỉ là sự dẫn chiếu tới những quy định chung về BTTH ngoài hợp đồng. Trong các quy định chung ở đó có đề cập tới trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu và người chiếm hữu có trách nhiệm liên đới đối với thiệt hại gây ra (khoản 3 Điều 584). Tuy nhiên, các quy định này khó có thể áp dụng cho trách nhiệm đối với sản phẩm. Trong khi đó, Điều 587 của Bộ luật này thì khó có thể áp dụng cho trách nhiệm đối với sản phẩm bởi điều này lấy yếu tố lỗi làm trọng. Nghĩa vụ chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa khuyết tật của sản phẩm với thiệt hại xảy ra không được Luật ATTP năm 2010, Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 và BLDS năm 2015 đề cập tới. Điều 1386 – 9 của BLDS Pháp sửa đổi gán trách nhiệm chứng minh cho nguyên đơn. Có thể giải thích việc đòi hỏi chứng minh không có lỗi được BLDS năm 2015 gán cho bị đơn và nó không nói thêm gì về nghĩa vụ chứng minh của người này làm người ta có thể suy ra việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa khuyết tật của sản phẩm và thiệt hại xảy ra thuộc về nguyên đơn.

Rõ ràng, các quy định về nguyên tắc trách nhiệm đối với sản phẩm quy định trong Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 gây khó khăn cho việc áp dụng các quy định của BLDS năm 2015 vào giải quyết các tranh chấp trong các trường hợp liên quan tới miễn hoặc giảm trách nhiệm, trách nhiệm liên đới, nghĩa vụ chứng minh.

Trên cơ sở những phân tích nêu trên, chúng tôi kiến nghị:

Thứ nhất, sửa đổi Luật ATTP năm 2010 và Luật Bảo vệ QLNTD năm 2010 theo hướng chỉ quy định các tiêu chuẩn về an toàn và có ý nghĩa như một đạo luật trong lĩnh vực hành chính mà trong đó có thể bao gồm các chế tài hành chính; tất cả các vấn đề liên quan tới dân sự đưa về quy định tại BLDS. Như vậy, cần sửa đổi cơ bản BLDS năm 2015.

Thứ hai, duy trì chế độ trách nhiệm tuyệt đối đối với ATTP vì người tiêu dùng Việt Nam quá nhỏ bé so với thương nhân và quyền lực công.

Số liệu của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cho thấy sự nguy hiểm rất lớn đang rình rập người tiêu dùng. Tập đoàn này cho biết: Trong 5 năm qua, mỗi năm Việt Nam chi khoảng nửa tỷ USD để nhập khẩu về khoảng 100.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật với 4.100 loại thương phẩm khác nhau thuộc 1.643 hoạt chất hóa học để sản xuất thuốc trừ sâu hóa học cùng với nhiều loại hóa chất cấm vẫn được nhập lậu như Phospho hữu cơ, Clo hữu cơ, Wofatox, Monitos, Kelthane…, và cho rằng: điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển ngành nông nghiệp mà còn đe dọa sức khỏe của cộng đồng[12]./.

 

Bài viết được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 12, kỳ 2 tháng 6/2018

[1] Diễn đàn Doanh nghiệp, Mỗi năm, Việt Nam có 7.000-10.000 nạn nhân ngộ độc thực phẩm,[http://enternews.vn/moi-nam-viet-nam-co-7-000-10-000-nan-nhan-ngo-doc-thuc-pham-104619.html], 20/12/2016, 13:32:59.

[2] Trương Ngọc Anh, Vấn nạn thực phẩm bẩn là một trong những “trận chiến” lớn, Cafef, [http://cafef.vn/van-nan-thuc-pham-ban-la-mot-trong-nhung-tran-chien-lon-20180118151430286.chn], 18-01-2018 – 15:47 PM.

[3] Diễn đàn Doanh nghiệp, Mỗi năm, Việt Nam có 7.000-10.000 nạn nhân ngộ độc thực phẩm,[http://enternews.vn/moi-nam-viet-nam-co-7-000-10-000-nan-nhan-ngo-doc-thuc-pham-104619.html], 20/12/2016, 13:32:59.

[4] Trúc Nhật, ATTP và những tác động đến kinh tế Việt Nam,

[http://quochoi.org/an-toan-thuc-pham-va-nhung-tac-dong-den-kinh-te-viet-nam.html], Thứ sáu, 07/04/2017, 17:01 (GMT+7).

[5] Đời sống Việt Nam, Bài viết về ATTP: Nhức nhối thực trạng thực phẩm bẩn hiện nay,

[http://doisongvietnam.vn/bai-viet-ve-an-toan-thuc-pham-nhuc-nhoi-thuc-trang-thuc-pham-ban-hien-nay-30167-8.html], 10-10-2017 15:05:00.

[6] Christian Atias, Luật dân sự, Nxb. Thế giới, 1993, Hà Nội, tr. 80.

[7] CMS Cameron McKenna, Study of Civil Liability Systems for Remedying Environmental Damage, Final Report (as at 31st December 1995), This report was originally prepared by McKenna & Co McKenna & Co is now known as CMS Cameron McKenna, p. 9.

[8] Đời sống Việt Nam, Bài viết về ATTP: Nhức nhối thực trạng thực phẩm bẩn hiện nay,

[http://doisongvietnam.vn/bai-viet-ve-an-toan-thuc-pham-nhuc-nhoi-thuc-trang-thuc-pham-ban-hien-nay-30167-8.html], 10-10-2017 15:05:00.

[9] Deluxe Black’s Law Dictionbary, St. Paul, Minn. West Publishing Co., 1990, p. 1209.

[10] Deluxe Black’s Law Dictionbary, St. Paul, Minn. West Publishing Co., 1990, p. 1209.

[11] University of Oxford, Faculty of Law, Research and Subject Groups Reform of Frech Law Obligations, [https://www.law.ox.ac.uk/research-and-subject-groups/reform-french-law-obligations], Truy cập vào hồi 14.00, ngày 6/5/2018.

[12] Đời sống Việt Nam, Bài viết về ATTP: Nhức nhối thực trạng thực phẩm bẩn hiện nay,

[http://doisongvietnam.vn/bai-viet-ve-an-toan-thuc-pham-nhuc-nhoi-thuc-trang-thuc-pham-ban-hien-nay-30167-8.html], 10-10-2017 15:05:00.

 

Ngô Huy Cương, PGS. TS. Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội.

Be the first to comment

Leave a Reply