Quy định của BLTTDS 2015 về phiên hòa giải

Chia sẻ nếu thấy bài hay

Trong hai ngày 13-14/3/2018, TAND tỉnh Bắc Ninh hợp tác với Jica (Nhật Bản) tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế về “Nâng cao kỹ năng hòa giải đối với các vụ án dân sự” với sự tham gia của bà Umemoto Yumi (Vụ Hợp tác quốc tế Bộ Tư pháp Nhật Bản), bà Kamada Kiko (Chuyên gia dài hạn của Jica) và Thẩm phán hai cấp tỉnh Bắc Ninh; các nhà khoa học của Viện Nhà nước Pháp luật – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. Tapchitoaan.vn xin đăng tham luận mở đầu Hội thảo của TS Phạm Minh Tuyên, Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh, sau đó sẽ đăng các tham luận và bài tổng thuật.

Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của công tác hòa giải trong việc giải quyết các vụ án dân sự, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đề ra nhiệm vụ: “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài…..”. Ngày 3/10/2017 Chánh án TANDTC ban hành Chỉ thị số 04/2017/CT-CA về việc tăng cường công tác hòa giải tại TAND. Để việc hòa giải trong thực tiễn thực sự có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đặt ra thì việc nghiên cứu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về hòa giải là cần thiết, đặc biệt trong giai đoạn BLTTDS 2015 có hiệu lực thi hành với nhiều nội dung mới, quan trọng, tiến bộ. Trong phạm vi bài tham luận, chúng tôi hệ thống lại các quy định của pháp luật tố tụng về phiên hòa giải vụ án dân sự.

1.Thời điểm mở phiên hòa giải.

Mở phiên hòa giải là trách nhiệm của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm giúp đương sự có thể thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết quan hệ tranh chấp. Theo quy định của BLTTDS 2015, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có trách nhiệm tổ chức phiên hòa giải theo quy định trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn; vụ án không được tiến hành hòa giải (Điều 206 BLTTDS) và những vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207 BLTTDS). Pháp luật tố tụng không quy định thời điểm mở phiên hòa giải cụ thể là bao nhiêu ngày kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp khi xét thấy việc xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ đã đầy đủ, các tình tiết của vụ án đã được làm rõ; Thẩm phán sẽ linh hoạt ấn định thời điểm mở phiên hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử sao cho phù hợp. Thời hạn chuẩn bị xét xử  đối với các vụ án vụ án tranh chấp về dân sự (Điều 26 BLTTDS) và những tranh chấp về hôn nhân gia đình (Điều 28 BLTTDS) thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án; Đối với các vụ án Tranh chấp về kinh doanh, thương mại (Điều 30 BLTTDS) và tranh chấp về lao động (Điều 32 BLTTDS) thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Trường hợp vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài thì Phiên họp hòa giải phải được mở sớm nhất là 06 tháng và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án. Ngày mở lại phiên họp hòa giải (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên họp hòa giải chậm nhất là 01 tháng (Điều 476 BLTTDS 2015). Liên hệ các quy định về thời hạn giải quyết vụ án trong luật tố tụng hành chính, thời hạn giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục chung thì đây là một điểm nhấn, một bước cải tiến đột phá trong tư duy lập pháp, bởi thông thường để tránh tình trạng thiếu trách nhiệm, kéo dài thời gian giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, các nhà làm luật phải quy định thời hạn tối đa của mỗi một quá trình. Do đặc thù của các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài về vấn đề ủy thác tư pháp tống đạt các giấy tờ, tài liệu, quyết định của Tòa án ra nước ngoài nên BLTTDS 2015 đã quy định thời hạn mở phiên họp hòa giải trong khoảng sớm nhất là 06 tháng, chậm nhất là 08 tháng; thời hạn mở phiên tòa sớm nhất là 09 tháng, chậm nhất là 12 tháng. Lý luận cho thấy quy định kéo dài thời hạn mở phiên họp và mở phiên tòa các vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài là tiến bộ sẽ tạo điều kiện cho tòa án có thể thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt đầy đủ đúng thời hạn, góp phần giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được chính xác, đảm bảo thời hạn theo luật định. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài cho thấy, việc quy định rõ thời hạn sớm nhất mở phiên họp, phiên tòa như vậy là cứng nhắc, thụ động, thiếu hợp lý, nhiều trường hợp làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chính đương sự, làm mất đi sự linh hoạt của tòa án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự. Điển hình trường hợp vụ án ly hôn (chỉ có quan hệ hôn nhân, không có con chung và tài sản), sau khi Tòa án gửi cấp tống đạt bằng dịch vụ bưu chính, đương sự ở nước ngoài đã có văn bản phản hồi nêu ý kiến đồng ý ly hôn và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Trường hợp này, việc thu thập chứng cứ đã đầy đủ, rõ ràng nhưng Tòa án không được mở phiên tòa ngay mà phải chờ đến đúng thời hạn đã ấn định là không phù hợp. Trong thời gian tới rất mong TAND tối cao hướng dẫn tháo gỡ điểm bất cập này.

Bên cạnh quy định bắt buộc phải mở phiên hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử; pháp luật tố tụng cũng quy định việc hòa giải có thể được thực hiện tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm thể hiện bằng việc Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thể thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Tùy mỗi giai đoạn, việc hòa giải, thỏa thuận giữa các đương sự được ghi nhận dưới hình thức và giá trị pháp lý khác nhau…

2.Nguyên tắc tiến hành hòa giải

Theo quy định tại Điều 205 BLTTDS 2015 thì việc hòa giải phải được tiến hành theo các nguyên tắc sau:

– Thứ nhất, Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình. Xuất phát từ nguyên tắc cơ bản, đặc trưng của tố tụng dân sự là nguyên tắc Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5 BLTTDS) theo đó pháp luật thừa nhận và đảm bảo cho các chủ thể tham gia quan hệ tố tụng dân sự được toàn quyền thể hiện ý chí, lựa chọn, quyết định thực hiện hay không thực hiện hành vi tố tụng nhất định. Vụ án dân sự chỉ được phát sinh dựa trên yêu cầu khởi kiện của chủ thể khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, Tòa án không can thiệp, giải quyết các quan hệ dân sự khi không có đơn khởi kiện. Quá trình giải quyết vụ án trong mọi giai đoạn tố tụng, đương sự có toàn quyền thể hiện ý chí của mình bằng việc yêu cầu, thỏa thuận với nhau về đường lối giải quyết tranh chấp. Tòa án phải tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự và việc thể hiện ý chí này chỉ được Tòa án chấp nhận trong trường hợp hoàn toàn tự nguyện không bị đe dọa hay ép buộc.

– Thứ hai, Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội: Nội dung thỏa thuận của các đương sự chỉ được Tòa án chấp nhận khi nội dung này không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định; đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Mọi thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội đều không được Tòa án công nhận.

3.Phạm vi hòa giải

3.1. Những vụ án dân sự không được hòa giải

– Yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước:

Vụ án yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà  nước chỉ có thể được giải quyết bằng phán quyết của Tòa án thông qua phiên tòa xét xử. Pháp luật không thừa nhận thỏa thuận của các bên vì tính chất của loại tài sản này thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu nên một cá nhân không thể theo ý chí chủ quan của mình để thỏa thuận việc bồi thường. Quy định này nhằm phòng ngừa trường hợp lợi dụng việc hòa giải để thỏa thuận, thương lượng gây thiệt hại, thất thoát tài sản của Nhà nước. Khi áp dụng điều luật này, cần lưu ý trường hợp tài sản của Nhà nước nhưng được Nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn trong các doanh nghiệp liên doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mà doanh nghiệp được quyền tự chủ chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản và chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với tài sản đó thì trường hợp này không thuộc trường hợp không được hòa giải theo quy định tại khoản 1 Điều 206 BLTTDS 2015.

– Những vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội: Giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội thì đương nhiên vô hiệu. Về mặt bản chất thì giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập. Do vậy, khi giải quyết các vụ án phát sinh từ giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội thì Tòa án không tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của họ trong giao dịch này. Bởi nếu tiến hành hòa giải là đồng nghĩa với việc tạo điều kiện để các bên tiếp tục thực hiện giao dịch. Tuy nhiên, trong vụ án mà các bên chỉ có tranh chấp về việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu thì Tòa án vẫn tiến hành thủ tục hòa giải theo thủ tục chung.

3.2. Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

– Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt: Theo nội dung điều luật, Chủ thể được xác định là bị đơnngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Thực tiễn áp dụng trường hợp trên gặp nhiều khó khăn, việc áp dụng không thống nhất bởi trong chính nội dung điều luật đã ẩn chứa những quy định mang tính định tính, được hiểu theo nhiều cách khác nhau và không có sự thống nhất giữa các điều luật quy định cùng nội dung.

– Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng: Chủ thể được xác định trong trường hợp này là “đương sự” (bao gồm nguyên đơn, bơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan) không thể tham gia phiên hòa giải vì lý do chính đáng thì thuộc trường hợp không thể tiến hành hòa giải được, Tòa án sẽ ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Lý do chính đáng được xác định là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được (xác định tương tự theo điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP); các sự kiện này xảy ra không phụ thuộc và chịu sự chi phối của con người. VD: Bão lụt, thiên tai, sạt lở …..  

– Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự: Quan hệ hôn nhân là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân và không thể chuyển giao hay ủy quyền cho cá nhân khác đại diện tham gia. Khi giải quyết vụ án ly hôn mà một bên là vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được bởi một người mất năng lực hành vi dân sự là một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi và có Quyết định của Tòa án tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể hiện được ý chí, suy nghĩ của bản thân nên việc tổ chức phiên hòa giải cũng không có giá trị và không đạt được mục đích của hòa giải.

– Một trong các bên đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải: Để đảm bảo quyền tự định đoạt của các bên đương sự, xuất phát từ thực tiễn xét xử, BLTTDS 2015 đã bổ sung trường hợp khi giải quyết vụ án dân sự mà một trong các bên đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải thì Tòa án không phải tiến hành hòa giải. Quy định này là phù hợp, tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, thể hiện rõ bản chất của vụ án dân sự “Việc dân sự cốt ở đôi bên”. Bởi khi đương sự có đề nghị không tiến hành hòa giải đã thể hiện ý chí không thiện chí hòa giải nên việc tổ chức phiên hòa giải cũng mang tính hình thức không có hiệu quả trong thực tiễn.

4.Trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải

– Điểm mới quan trọng được quy định trong BLTTDS 2015 là trước khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán sẽ tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ; quy định này có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, bảo đảm sự minh bạch, công khai để đương sự trong vụ án có cơ hội tiếp cận toàn bộ chứng cứ, tài liệu một cách bình đẳng, trực tiếp từ đó phân tích, nhận định một cách toàn diện, khách quan vụ án, những điểm có lợi, bất lợi đối với mình tạo tiền đề giúp buổi hòa giải đạt được hiệu quả cao nhất. Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải được diễn ra nối tiếp nhau.

– Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên họp kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia phiên hòa giải: Buổi hòa giải chỉ được tiến hành khi có mặt đầy đủ các đương sự, trường hợp vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên hòa giải và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các bên đương sự có mặt đều đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải.

– Thẩm phán phổ biến cho đương sự về các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các đương sự liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành hoặc không thành để họ tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Sau khi được nghe Thẩm phán hướng dẫn và giải thích các quy định của pháp luật có liên quan đến vấn đề tranh chấp. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phát biểu ý kiến thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án. Người đại diện theo ủy quyền của đương sự có thể nhân danh người được ủy quyền tham gia, trình bày quan điểm, thỏa thuận về việc giải quyết vụ án trong phạm vi được ủy quyền. Người bảo vệ quyền và lợi hợp hợp pháp cho đương sự có thể phát biểu, đóng góp ý kiến bổ sung cho người mà họ bảo vệ quyền lợi. Trên cơ sở lời trình bày của các bên, Thẩm phán lập biên bản hòa giải xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu đương sự trình bày bổ sung những vấn đề chưa rõ, chưa thống nhất. Biên bản hòa giải phải có đầy đủ chữ ký của những người tham gia phiên họp. Căn cứ vào biên bản hòa giải có thể xảy ra các trường hợp:

– Hòa giải thành toàn bộ vụ án: Khác với việc hòa giải tại phiên tòa, chỉ trong trường hợp, các đương sự thống nhất được với nhau về toàn bộ các vấn đề giải quyết vụ án (kể cả phần án phí) thì Tòa án mới lập biên bản hòa giải thành, trong đó nêu rõ tranh chấp và nội dung các đương sự thỏa thuận, hướng giải quyết. Biên bản hòa giải thành được thừa nhận khi có đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 210 BLTTDS và phải có đầy đủ chữ ký của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự tham gia hòa giải. Văn bản hòa giải thành này chưa có giá trị pháp lý, chỉ là văn bản ghi nhận sự kiện pháp lý nhưng là cơ sở để Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

Cần lưu ý trong vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, do tính chất đặc thù của quan hệ tranh chấp này nên mục tiêu hòa giải hướng tới việc đoàn tụ của hai vợ chồng. Trường hợp vợ chồng thật sự tự nguyện ly hôn và đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ các vấn đề có tranh chấp trong vụ án thì Tòa án sẽ lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành (Mẫu số 37-DS (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13 tháng 01 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) Giá trị biên bản này tương tự như biên bản hòa giải thành (Mẫu số 38).

– Hòa giải thành một phần vụ án: Trong trường hợp các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết một phần vụ án hoặc thỏa thuận được về toàn bộ nội dung vụ án nhưng không thỏa thuận được với nhau về nghĩa vụ chịu án phí thì thuộc trường hợp hòa giải không thành; trong biên bản hòa Tòa án ghi rõ những nội dung đã được các đương sự thống nhất và những nội dung không thống nhất.

– Hòa giải không thành: Trường hợp các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa án phải lập biên bản hòa giải không thành (trong biên bản hòa giải phải ghi đầy đủ những nội dung không thỏa thuận được theo quy định tại Khoản 3 Điều 211 BLTTDS) và ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

5.Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì đây là căn cứ suy đoán nội dung thỏa thuận tại biên bản hòa giải thành đã thể hiện đúng ý chí, mong muốn của chủ thể tham gia nên cần được công nhận. Việc ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự có thể do Thẩm phán trực tiếp chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Đây là một quy định rất linh hoạt của pháp luật bởi thực tiễn xét xử rất nhiều trường hợp tại thời điểm phải ban hành quyết định công nhận sự thỏa thuận nhưng vì lý do khách quan mà Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải không thể ra quyết định công nhận sự thỏa thuận, trong trường hợp này Chánh án TAND có thể phân công một thẩm phán khác ban hành quyết định.

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay khi được ban hành và có giá trị pháp lý “tối thượng” khi không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử (http://tapchitoaan.vn).

Be the first to comment

Leave a Reply