Hướng nghiên cứu, hoàn thiện chế định áp giải, dẫn giải trong BLTTHS 2015

Chia sẻ nếu thấy bài hay

Tố tụng hình sự là một trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng của Nhà nước. So với các lĩnh vực hoạt động nhà nước khác thì tố tụng hình sự là lĩnh vực trong đó việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế là cần thiết khách quan và xâm phạm nhiều nhất vào cuộc sống tư của công dân, hạn chế quyền và tự do hiến định của họ. Điều này xuất phát từ nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện tội phạm và kẻ phạm tội, ngăn chặn tiếp tục phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự của kẻ phạm tội. Đây là yếu tố quyết định sự cần thiết áp dụng các biện pháp cưỡng chế can thiệp vào tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm thân thể và các quyền hiến định khác của công dân ([1]).
Áp giải và dẫn giải không phải là hai biện pháp cưỡng chế mới trong tố tụng hình sự. Trong lần sửa đổi vừa rồi, hai biện pháp cưỡng chế này được quy định trong cùng một điều luật và thể hiện nhiều điểm mới, tiến bộ nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để các tồn tại trên thực tế. Bài viết, trên cơ sở phân tích quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS) về áp giải, dẫn giải, sẽ phân tích những tồn tại, hạn chế chưa được giải quyết trong Bộ luật mới về hai biện pháp cưỡng chế này.

1. Quy định về áp giải, dẫn giải trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

Có thể nói, so với quy định của BLTTHS năm 2003, chế định về áp giải, dẫn giải đã có nhiều điểm mới, tiến bộ.
Áp giải và dẫn giải được định nghĩa chính thức trong BLTTHS năm 2015 là các biện pháp cưỡng chế. Theo quy định tại Điều 4 BLTTHS năm 2015 về giải thích thuật ngữ, hai biện pháp cưỡng chế này đã được nhà làm luật đưa ra định nghĩa với nội hàm khá rõ ràng. Theo đó, áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, còn dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định. Định nghĩa đã xác định được bản chất của hai biện pháp, đồng thời, giúp cho người đọc hình dung khái quát về đối tượng, trường hợp của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này. Tiếp đó, hai biện pháp áp giải và dẫn giải được quy định cụ thể trong Điều 127 của BLTTHS năm 2015.

Đây là điểm tiến bộ rõ nét trong kĩ thuật lập pháp về hai biện pháp cưỡng chế này nhìn từ góc độ so sánh giữa BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015. Thật vậy, so với quy định trong BLTTHS năm 2003, nhóm các biện pháp cưỡng chế nói chung chưa được quy định thành một phần riêng mà nằm rải rác trong BLTTHS, cụ thể, các quy định về biện pháp áp giải, dẫn giải chủ yếu được thể hiện dưới dạng nghĩa vụ trong các điều luật cụ thể quy định về địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng (Điều 49, 50, 55 thuộc chương IV (Người tham gia tố tụng), trong Điều 130 thuộc Chương X (Khởi tố bị can và hỏi cung bị can) và Điều 134 thuộc Chương XI (Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đối chất và nhận dạng)). Điều này phù hợp với quan điểm lập pháp khi sửa đổi BLTTHS năm 2003 là thu hút toàn bộ các biện pháp cưỡng chế tố tụng để điều chỉnh chung trong một chương nhằm bảm đảm tính chặt chẽ và nhất quán trong việc quy định các biện pháp này, từng biện pháp cưỡng chế phải được điều chỉnh cụ thể bởi năm yếu tố: căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành ([2]).

Thứ hai, BLTTHS mới mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng của hai biện pháp áp giải và dẫn giải. Theo quy định của BLTTHS năm 2015, đối tượng của biện pháp áp giải là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội. Quy định về người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp là sự kế thừa quy định về người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp nhưng có sự thay đổi để phù hợp hơn với tinh thần bảo vệ quyền con người của Hiến pháp năm 2013 ([3]). Người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Như vậy, so với BLTTHS năm 2003, đối tượng của biện pháp áp giải đã được mở rộng. Trước đây, chỉ có bị can, bị cáo mới có thể bị áp giải nếu thuộc trường hợp luật định. Việc mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng, theo tác giả, là hợp lý. Mục tiêu của biện pháp cưỡng chế áp giải là nhằm đảm bảo người bị áp dụng phải có mặt ở địa điểm nhất định, phục vụ cho hoạt động giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền, đảm bảo tính liên tục trong việc giải quyết vụ án. Nếu chỉ quy định bị can, bị cáo có thể bị áp giải thì sẽ không bao quát hết các trường hợp phát sinh trên thực tế. Việc một người tham gia tố tụng hình sự, đặc biệt là người đang trong diện “tình nghi” đã thực hiện tội phạm thì sự vắng mặt (không có lí do chính đáng) hay sự không hợp tác của họ đều có thể ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án. Do đó, việc quy định đối tượng có thể bị áp giải như BLTTHS hiện hành sẽ đảm bảo sự tham gia của những người này trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Như PGS.TS. Nguyễn Thái Phúc đã khẳng định: “Một trong những lí do dẫn đến sự cần thiết áp dụng các biện pháp cưỡng chế là thái độ chủ quan của chủ thể quan hệ pháp luật đối với nghĩa vụ của mình. Với chủ thể tự chấp hành nghĩa vụ pháp luật thì Nhà nước không cần thiết phải áp dụng biện pháp cưỡng chế.” ([4])

Đối tượng của dẫn giải là một số người tham gia tố tụng, cụ thể gồm: 1) người làm chứng; 2) người bị hại; 3) người bị tố giác; 4) người bị kiến nghị khởi tố. Như vậy, trong số 20 tư cách (người) tham gia tố tụng hình sự quy định tại Điều 55 của BLTTHS năm 2015, có 04 tư cách (người) tham gia tố tụng có thể bị dẫn giải. Quy định về đối tượng dẫn giải đã giải quyết được cơ bản khó khăn, vướng mắc về vấn đề này trong BLTTHS trước đây. Thật vậy, Báo cáo số 11 đã chỉ rõ những tồn tại, hạn chế trong quy định của BLTTHS trước đây về đối tượng dẫn giải, đó là “Chỉ quy định dẫn giải đối với người làm chứng mà chưa áp dụng đối với những người tham gia tố tụng khác trong trường hợp đã triệu tập lấy lời khai nhưng không có mặt (Điều 137), gây khó khăn cho hoạt động điều tra. Trường hợp người bị hại từ chối giám định, nhưng xét thấy việc từ chối đó không có lý do chính đáng hoặc ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án thì chưa có biện pháp buộc họ phải đi giám định. Khi người làm chứng không chấp hành quyết định dẫn giải mà không có lý do chính đáng thì không có cơ chế giải quyết để bảo đảm sự có mặt của họ, gây khó khăn cho hoạt động tố tụng.” Hoặc “nhiều trường hợp sau khi đã nhận lại tài sản hoặc đã được bồi thường đầy đủ thì người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại thường vắng mặt tại phiên tòa, gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, nhưng do không quy định biện pháp áp giải đối với những người này nên không có căn cứ để thực hiện (Điều 191)” ([5]). Tuy nhiên, quy định của BLTTHS năm 2015 vẫn chưa giải quyết triệt để vấn đề (Xin xem mục 2 bên dưới).
BLTTHS năm 2015 đã bám sát mục tiêu, quan điểm chỉ đạo khi xây dựng chế định về áp giải, dẫn giải. Như trên đã đề cập, từng biện pháp cưỡng chế phải được điều chỉnh cụ thể bởi năm yếu tố: căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, trình tự, thủ tục và thời hạn tiến hành. Căn cứ áp dụng dẫn giải được quy định ngay trong điều luật và tương ứng đối với từng tư cách (người) tham gia tố tụng hình sự.

Về thẩm quyền quyết định biện pháp áp giải, dẫn giải cũng được mở rộng hơn: Khoản 3 Điều 127 đã quy định rõ ràng, cụ thể người có thẩm quyền quyết định áp giải, dẫn giải là “Điều tra viên, cấp trưởng của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Kiểm sát viên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử”. Việc trao quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế áp giải, dẫn giải cho những người trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra như Điều tra viên, Kiểm sát viên không chỉ góp phần giải quyết vụ án được nhanh chóng, mà quan trọng hơn, sẽ tăng cường tính độc lập, nâng cao trách nhiệm của những người “trực tiếp” tiến hành tố tụng. Đây cũng là xu hướng lập pháp tố tụng hình sự của nhiều quốc gia trên thế giới. Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2015 cũng đã quy định cụ thể các cơ quan có trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định áp giải, dẫn giải đó là Cơ quan Công an nhân dân và Quân đội nhân dân có thẩm quyền.

Ngoài ra, khoản 6 điều 127 quy định rõ ràng và phù hợp hơn với thực tiễn tố tụng về thời điểm, theo đó “Không được bắt đầu việc áp giải, dẫn giải người vào ban đêm.”.
Như vậy, việc mở rộng, quy định rõ ràng, cụ thể phạm vi đối tượng, trường hợp và thẩm quyền về áp giải, dẫn giải trong BLTTHS năm 2015 sẽ góp phần đảm bảo việc áp dụng các biện pháp này chặt chẽ, đúng pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp giải, dẫn giải là vấn đề phức tạp, nhạy cảm và rất dễ bị phản ứng, vì vậy các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cần phải xem xét rất thận trọng, chỉ nên áp dụng khi thật cần thiết để làm rõ các nội dung quan trọng của vụ án.

 

2. Một số hạn chế, vướng mắc chưa được giải quyết

BLTTHS năm 2015 ban hành đã đổi mới nhiều trong lập pháp, cả về hình thức, kĩ thuật lập pháp và nội dung của các quy định đối với biện pháp cưỡng chế nói chung, đối với hai biện pháp áp giải, dẫn giải nói riêng. BLTTHS năm 2015 vừa có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, vẫn còn rất sớm để có thể đánh giá tính đúng đắn, khả thi trong các quy định của BLTTHS năm 2015. Tuy nhiên, qua nghiên cứu từ góc độ quy định của luật, tác giả nhận thấy, chế định áp giải, dẫn giải trong BLTTHS năm 2015 vẫn còn một số tồn tại.

Trước tiên, về đối tượng của biện pháp dẫn giải. Như trên đã đề cập, quy định về đối tượng áp dụng của biện pháp này vẫn chưa giải quyết triệt để các vấn đề đã được chỉ ra khi tổng kết BLTTHS năm 2003. Thực tế cho thấy có những vấn đề phức tạp về chuyên môn nhưng người giám định được triệu tập cố tình không tham gia phiên toà đã ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án, trong khi chưa có chế tài xử lý đối với giám định viên vắng mặt mà không có lý do chính đáng (Điều 193) ([6]). Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 vẫn chưa thừa nhận người giám định là đối tượng của dẫn giải. Theo tác giả, việc không đưa người tham gia tố tụng này vào đối tượng bị dẫn giải là không phù hợp với nguyên tắc quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, Điều 5 BLTTHS năm 2015 quy định:

 

Điều 5. Trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
…4. Cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.…6. Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.

 

Nguyên tắc này xuất phát thường được ghi nhận trong truyền thống pháp luật của các nước theo mô hình tố tụng thiên về thẩm vấn – mô hình tôn trọng nguyên tắc tìm kiếm sự thật khách quan của vụ án (Search for the truth). Ở những quốc gia theo mô hình tố tụng này, tham gia đấu tranh phòng, chống tội phạm là trách nhiệm của mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức. Chính vì vậy, các quốc gia này thường quy định việc người làm chứng có nghĩa vụ hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng để giải quyết vụ án. Họ có thể bị dẫn giải nếu thuộc các trường hợp luật định, ví dụ như ở Việt Nam, người làm chứng có thể bị dẫn giải nếu “không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan” ([7]). Ngược lại, trong các quốc gia theo mô hình tố tụng hình sự thiên về tranh tụng – mô hình tố tụng đề cao tính “đối tụng” của bên buộc tội và bên gỡ tội, đặc biệt là tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng nói chung ([8]), người làm chứng nói riêng thường không có nghĩa vụ phải ra làm chứng, cung cấp thông tin cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án. Do đó, họ được “mời” đến phiên tòa để cung cấp lời khai, và như vậy, không có khái niệm “bị dẫn giải” để buộc phải có mặt theo giấy triệu tập. Với cách tiếp cận về “trách nhiệm” nêu trên, có thể thấy, người giám định, trong sự so sánh với người làm chứng “rất nên” thuộc trường hợp có thể bị dẫn giải. Người giám định là “người có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực cần giám định, được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu, người tham gia tố tụng yêu cầu giám định theo quy định của pháp luật.”([9]). Thực tiễn cho thấy, người giám định trong tố tụng hình sự ở Việt Nam thường là công chức, viên chức nhà nước. Do đó, nếu có phương thức phù hợp để so sánh, nhiều người sẽ tán thành với quan điểm người giám định nên có trách nhiệm cao hơn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm so với người làm chứng – người tham gia tố tụng hình sự do tình huống khách quan mang lại và có thể là bất kỳ ai. Do đó, tác giả cho rằng, phạm vi áp dụng của dẫn giải nên được mở rộng toàn diện hơn nữa, cần quy định bao gồm cả người giám định trong những trường hợp cần giải quyết “vấn đề phức tạp về chuyên môn” như đã đề cập trong báo cáo tổng kết thi hành BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, cần những nghiên cứu sâu hơn để đưa ra quy định hợp lý về trường hợp, hình thức, mức độ “cưỡng chế” có thể sử dụng, đồng thời, cần cân nhắc đến yếu tố “danh dự, uy tín” của giám định viên với tư cách là công chức, viên chức nhà nước.

Thứ hai, về mức độ “cưỡng chế” cần thiết khi áp dụng hai biện pháp này. Ở mục 1 của bài viết, tác giả đề cập đến sự tiến bộ về kĩ thuật lập pháp khi áp giải và dẫn giải được định nghĩa chính thức trong điều luật về giải thích thuật ngữ (Điều 4 BLTTHS năm 2015). Tuy nhiên, nếu xét từ khía cạnh nội hàm khái niệm, hai định nghĩa nêu trên chưa hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu của người nghiên cứu. Điều này bởi lẽ, căn cứ vào thuật ngữ cũng như đối tượng áp dụng, áp giải là biện pháp mang tính cưỡng chế cao hơn dẫn giải. Do đó, những người nghiên cứu có thể suy đoán mức độ cưỡng chế được sử dụng đối với hai biện pháp này. Mặc dù vậy, điều này không được thể hiện trong BLTTHS năm 2015. Thật vậy, theo khái niệm các nhà làm luật đưa ra, bản chất của hai biện pháp không có gì khác nhau ngoài đối tượng áp dụng ([10]). Tuy nhiên, Điều 127 cũng không nêu rõ mức độ cưỡng chế, biện pháp, công cụ có thể sử dụng khi cưỡng chế trong hai trường hợp này. Có quan điểm sẽ cho rằng, những vấn đề kỹ thuật, cụ thể nêu trên có thể được quy định trong các văn bản dưới luật như nghị định, hoặc thông tư, thông tư liên tịch. Tác giả không đồng ý với quan điểm này. Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 6 đã thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng về tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bổ sung nhiều nguyên tắc tư pháp tiến bộ, bổ sung và làm rõ hơn nhiệm vụ của Tòa án và Viện kiểm sát khi thực hiện chức năng Hiến định. Những sửa đổi, bổ sung này đòi hỏi phải được cụ thể hóa trong BLTTHS (sửa đổi)([11]). Do đó, nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp và xác lập căn cứ pháp lý để kiểm soát chặt chẽ việc áp dụng các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân, một trong các quan điểm chỉ đạo khi xây dựng BLTTHS sửa đổi là quy định mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong quá trình giải quyết vụ án phải được quy định trong BLTTHS. Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rất rõ quan điểm này, theo đó mọi biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân cần phải được quy định bởi luật – hình thức văn bản quy phạm pháp luật chỉ Quốc hội có thẩm quyền ban hành ([12])./.

Quang Minh / Cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Hiến pháp năm 2013;
2. Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
3. Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mói trong BLTTHS năm 2015 do PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia;
4. Báo cáo tổng kết số 11/BC-VKSTC ngày19/11/2015 tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003;
5. Nguyễn Văn Biên (chủ biên), Bình luận khoa học BLTTHS năm 2015, NXB Hồng Đức;
6. Tờ trình số 11/ TTr-VKSTC-V8 ngày 23/3/2015 về dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi).

([1]) Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mói trong BLTTHS năm 2015 do PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, tr.237;
([2]) Báo cáo tổng kết số 11/BC-VKSTC ngày 19/11/2015 tổng kết thực tiễn thi hành 10 năm BLTTHS năm 2003, tr.31;
([3]) Xem thêm Nguyễn Văn Biên (chủ biên), Bình luận khoa học BKTTHS năm 2015, NXB Hồng Đức, tr.107;
([4]) Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mói trong BLTTHS năm 2015 do PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, tr.237;
([5]) Báo cáo số 11/BC-VKSTC, tlđd, tr.20, tr.22;
([6]) Báo cáo số 11/BC-VKSTC, tlđd, tr. 22;
[7] Xem Điều 127, BLTTHS năm 2015;
[8] Ngược lại, ở những quốc gia này, tiêu biểu như Hoa Kỳ, chương trình bảo vệ nhân chứng rất phát triển;
[9] Xem khoản 1 Điều 68 BLTTHS năm 2015;
([10]) PGS.TS. Nguyễn Thái Phúc cũng có cùng nhận định như trên. Xem Nguyễn Thái Phúc, Biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế, in trong Sách chuyên khảo Những nội dung mới trong BLTTHS năm 2015 do PGS.TS. Nguyễn Hòa Bình chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia, tr.237;
Điều 4. Giải thích từ ngữ
1. Trong Bộ luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
k) Áp giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử.
l) Dẫn giải là việc cơ quan có thẩm quyền cưỡng chế người làm chứng, người bị tố giác hoặc bị kiến nghị khởi tố đến địa điểm tiến hành điều tra, truy tố, xét xử hoặc người bị hại từ chối giám định.
([11]) Tờ trình số 11/ TTr-VKSTC-V8 ngày 23/3/2015 về dự án Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi), tr.2;
([12]) Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp 2013 quy định “2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Be the first to comment

Leave a Reply